Bùi Thị Khánh Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Trong hành trình vạn dặm của đời người, niềm tin vào bản thân chính là ngọn hải đẳng định hướng, tạo nên sức mạnh nội sinh kỳ diệu để đưa ta đến bến bờ thành công, bởi lẽ "cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến". Niềm tin không chỉ là sự lạc quan thuần túy, mà là sự thấu hiểu sâu sắc về giá trị, năng lực và lộ trình phát triển của chính mình. Khi đối mặt với nghịch cảnh, giống như loài cây kiên cường "bám chặt rễ dưới nền đất băng giá", niềm tin là chất xúc tác giúp con người nhẫn nại tích lũy, âm thầm rèn luyện mà không bị khuất phục bởi bão giông cuộc đời. Sức mạnh to lớn nhất của niềm tin là giúp chúng ta thoát khỏi áp lực đồng trang lứa và sự đố kỵ độc hại khi chứng kiến "khu vườn của người khác" nở rộ sớm hơn. Mỗi cá nhân đều có một "múi giờ" thành công hoàn toàn khác biệt; hoa bằng lăng rực cháy vào mùa hạ không thể ghen tị với hoa nghênh xuân bung nở lúc xuân sang. Có những người tỏa sáng khi còn rất trẻ, nhưng cũng có những vĩ nhân như Colonel Sanders chỉ tìm thấy đỉnh cao cuộc đời ở tuổi sáu mươi với thương hiệu KFC. Ngược lại, nếu thiếu đi niềm tin, con người sẽ dễ dàng buông xuôi, gục ngã ngay trước ngưỡng cửa của sự hoàn thiện, mãi mãi sống trong bóng tối của sự hoài nghi. Ý thức được điều đó, thế hệ trẻ hôm nay cần ngừng so sánh bản thân với người khác, tập trung vun xới "khu vườn" nội tại bằng tri thức và trải nghiệm. Hãy kiên trì hành động và giữ vững một niềm tin bất diệt, bởi vì vào thời khắc chín muồi nhất, bạn chắc chắn sẽ rực rỡ theo cách của riêng mình.
Câu 2 :
Anh Ngọc là một trong những gương mặt nhà thơ chiến sĩ tiêu biểu bước ra từ thế hệ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngòi bút của ông mang đậm chiều sâu suy tư, kết hợp hài hòa giữa chất hiện thực sống động của đời lính và tư duy triết lý sâu sắc về con người, đất nước, thời đại. Bài thơ "Tổ quốc chân trời" chính là một tiếng lòng tha thiết, thể hiện những chiêm nghiệm chín muồi và tình yêu máu thịt của một cái tôi trữ tình gắn bó trọn đời với vận mệnh giang sơn. Qua tác phẩm, người đọc được cùng nhân vật trữ tình trải qua một hành trình cảm xúc phong phú, đi từ những nhận thức dung dị, cụ thể trên đường hành quân đến những suy tưởng vĩ đại, cao cả về một Tổ quốc luôn vẫy gọi, mở ra ở phía chân trời.
Mở đầu bài thơ, mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình được khơi nguồn từ những bước chân vạn dặm trên các nẻo đường hành quân, gắn liền với một nhận thức mang tính chân lý về đất nước:
"Bắt đầu từ mảnh đất dưới chân anh Tổ quốc nối với những miền xa xôi Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy Nên đời anh là một cuộc lên đường" Tổ quốc dưới lăng kính của người chiến sĩ không phải là một khái niệm trừu tượng, giáo điều trong sách vở, mà hiện hữu vô cùng sống động, bắt đầu từ "mảnh đất dưới chân anh". Đó là dải đất quê hương thân thuộc, gần gũi nhất mà anh dốc lòng bảo vệ. Thế nhưng, đất nước ấy cũng mênh mông, kỳ vĩ khôn cùng khi liên tục vươn dài, "nối với những miền xa xôi". Điểm nhìn thơ bộc lộ một tư duy mang tính triết luận: Tổ quốc là kết tinh quý giá của ngàn năm văn hiến, là giá trị thiêng liêng mà con người phải tự dấn thân, tự trải nghiệm và trải qua gian khổ mới có thể cảm nhận trọn vẹn: "Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy". Ý thức được điều đó, cuộc đời anh tự nguyện trở thành "một cuộc lên đường" không mỏi mệt.
Cảm xúc dấn thân ấy càng được nâng lên thành niềm kiêu hãnh của cả một thế hệ trẻ anh hùng:
"Xoè bàn tay là gặp những chân trời Là gặp những con đường Những cánh rừng đi suốt đời không hết Thế hệ anh nối nhau mải miết Ba lô đeo tuổi trẻ ở đằng sau"
Cụm từ "Xoè bàn tay là gặp những chân trời" diễn tả một tư thế làm chủ không gian đầy lãng mạn của người lính. Điệp từ "gặp" kết hợp với hình ảnh "những con đường", "những cánh rừng đi suốt đời không hết" mở ra không gian địa lý bao la của giang sơn Việt Nam, đồng thời gợi ra chặng đường cách mạng gian lao nhưng đầy vẻ vang. Hình ảnh thơ xuất sắc nhất của đoạn thơ chính là "Ba lô đeo tuổi trẻ ở đằng sau". Tuổi trẻ của người lính không gửi lại chốn phồn hoa, không dành cho những mưu cầu cá nhân nhỏ hẹp, mà đã được xếp gọn gàng trong hành trang chiến sĩ. Họ "mải miết" nối tiếp nhau ra trận, đem sức trẻ, máu xương để gìn giữ bờ cõi quê hương. Cảm xúc thơ ở đây tràn đầy tinh thần lạc quan, lý tưởng cống hiến thanh xuân cho nghĩa lớn của dân tộc.
Theo bước chân viễn chinh, mạch thơ lắng lại, nhường chỗ cho sự xúc động nghẹn ngào và lòng tự tôn dân tộc sâu sắc khi nhân vật trữ tình đối diện với chiều sâu lịch sử thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc: "Có một lần trên cát trắng hàng dương Chiều Sa Vĩ sóng chỏm lên cột mốc Cái tảng đá đứng ngàn năm thách thức Như bài thơ tứ tuyệt của cha ông... Nam quốc sơn hà... ai hát trước mênh mông Vóc nắm đất anh hình dung Tổ quốc Biển thì rộng mà nhỏ nhoi hạt cát Hạt cát nào lay động tận hồn anh"
Đứng giữa đất trời Móng Cái, nhìn ngắm mũi Sa Vĩ nơi đầu sóng ngọn gió, giữa cảnh "cát trắng hàng dương" và những đợt sóng xô tràn qua cột mốc chủ quyền, nhân vật trữ tình chợt chạm vào linh hồn của lịch sử. Biểu tượng "Cái tảng đá đứng ngàn năm thách thức" được ví von một cách tài hoa với "bài thơ tứ tuyệt của cha ông". Tảng đá biên thùy chịu đựng biết bao mưa bom bão đạn, chịu đựng bão tố thời gian vẫn hiên ngang đứng vững như bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm. Trong tiếng sóng biển gầm vang, nhân vật trữ tình như nghe thấy giai điệu giữ nước của tiền nhân lặp đi lặp lại giữa khoảng không mênh mông. Sự tự ý thức về trách nhiệm công dân được đẩy lên cao độ: "Vóc nắm đất anh hình dung Tổ quốc". Đất nước nằm trong từng vóc đất bình dị, từng hạt cát vô danh nơi bờ biển rộng. Sự tương phản giữa cái bao la của biển khơi và sự nhỏ bé của hạt cát bỗng chốc bị xóa nhòa, bởi chính "hạt cát" chứa đựng hồn sông núi ấy đã tạo nên một cơn chấn động mãnh liệt, "lay động tận hồn anh". Cảm xúc lúc này là sự tự hào, biết ơn sâu sắc trước xương máu của bao thế hệ đi trước đã thấm đẫm vào từng tấc đất quê hương.
Không chỉ trăn trở với đất liền, biên giới, cái tôi trữ tình tiếp tục mở rộng biên độ cảm xúc ra không gian biển đảo xa xôi – nơi đầu sóng ngọn gió luôn tiềm ẩn những thách thức của thời đại:
"Cánh buồm nâu trên sắc biển xanh Như chiếc lá bồng bềnh, như cánh én Tổ quốc anh nổi trôi với biển Giữa bao la cương một mảnh đất liền Chợt nhìn lên tóc đã bạc lúc nào Lòng không nguôi những chân mây góc biển Xanh trên đầu vẫn sắc trời tháng chín Nắng Ba Đình xao xuyến sáng Tuyên ngôn"
Hình ảnh "Cánh buồm nâu trên sắc biển xanh" hiện lên mang vẻ đẹp lãng mạn, thanh bình gợi nhớ đến "chiếc lá bồng bềnh" hay "cánh én" báo xuân. Thế nhưng, ẩn sau bức tranh thiên nhiên nên thơ ấy lại là một nỗi niềm suy tư mang đầy trăn trở: "Tổ quốc anh nổi trôi với biển / Giữa bao la cương một mảnh đất liền". Từ "nổi trôi" không chỉ gợi tả thế đứng địa lý của một quốc gia dọc bờ biển Đông mà còn ẩn dụ cho những thăng trầm, giông bão thời đại mà đất nước luôn phải gồng mình đối mặt để canh giữ chủ quyền. Qua thời gian, người chiến sĩ "chợt nhìn lên tóc đã bạc lúc nào". Tuổi tác có thể lấy đi thanh xuân, thể xác có thể già nua, nhưng tình yêu đất nước trong anh là một hằng số bất biến, luôn rực cháy: "Lòng không nguôi những chân mây góc biển". Nguồn sức mạnh to lớn giúp người lính vượt qua sự hữu hạn của đời người chính là lý tưởng cách mạng cao đẹp: "Xanh trên đầu vẫn sắc trời tháng chín / Nắng Ba Đình xao xuyến sáng Tuyên ngôn". Ánh sáng rực rỡ của ngày Độc lập ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 đã trở thành điểm tựa tinh thần, nguồn năng lượng vĩnh cửu chiếu rọi tâm hồn anh, giữ cho ngọn lửa nhiệt huyết trong tim không bao giờ tắt.
Bài thơ khép lại bằng việc đúc kết cảm xúc thành một lời thề thủy chung, một chân lý sống bất diệt của người lính thông qua khổ thơ cuối đầy dồn dập, mạnh mẽ: "Cả đời anh với khẩu súng lên đường Trái tim đập trong bão giông lửa cháy Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy Nên lòng anh luôn hướng tới những chân trời."
Hai hình ảnh hoán dụ và biểu tượng "khẩu súng" cùng "trái tim" đặt cạnh nhau tạo nên một chỉnh thể hoàn mỹ. "Khẩu súng" đại diện cho ý chí chiến đấu kiên cường, cho tinh thần cảnh giác bảo vệ bờ cõi; còn "trái tim" chính là biểu tượng cho tình yêu say đắm, mãnh liệt hướng về đất nước. Dù phải đi qua "bão giông lửa cháy", người lính vẫn không một bước lùi bước. Điệp khúc "Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy" một lần nữa được ngân lên như một sự khẳng định vững chắc: Tổ quốc không phải là một khái niệm tĩnh tại có sẵn để hưởng thụ, mà là một giá trị thiêng liêng luôn mở ra phía trước, đòi hỏi con người phải liên tục tìm kiếm, khám phá, xây dựng và bảo vệ bằng tất cả mồ hôi, trí tuệ và xương máu. Hình ảnh hành động hướng về "những chân trời" ở câu thơ cuối cùng là một cái kết mở đầy dư ba, thể hiện niềm lạc quan, sự tin tưởng tuyệt đối của nhân vật trữ tình vào tương lai tươi sáng và sự phát triển đi lên của dân tộc.
Bằng thể thơ tự do linh hoạt, ngôn ngữ hàm súc giàu chất suy tưởng cùng việc xây dựng các hình tượng thơ vừa chân thực vừa mang tầm vóc biểu trưng cao, "Tổ quốc chân trời" của Anh Ngọc đã khắc họa thành công thế giới cảm xúc sâu sắc, đa chiều của nhân vật trữ tình. Đó không còn là tình yêu quê hương đất nước bản năng, đơn thuần mà đã được nâng tầm thành một lý tưởng sống, một lẽ sống cao đẹp của cả một thế hệ chiến sĩ. Bài thơ không chỉ là khúc tráng ca của quá khứ, mà còn là lời tự tình, lời nhắc nhở sâu sắc đối với thế hệ trẻ hôm nay về trách nhiệm nối bước cha ông, kiên định lên đường để kiến tạo và hướng về những chân trời mới vinh quang của Tổ quốc.
Câu 1 :
Theo văn bản, để trồng một khu vườn, chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận xem mình sẽ trồng những loại cây nào và sẽ trồng chúng ở đâu trong khu vườn của mình.
Câu 2 :
Biện pháp tu từ được sử dụng là Nhân hóa (thể hiện qua từ ngữ chỉ tâm lý, hành động của con người: "không ganh tị").
Câu 3 :
Bằng chứng được sử dụng: Hình ảnh thiên nhiên vô tư, lặng lẽ cống hiến (những bông hoa không ganh tị khi đối phương nở rộ; cây bằng lăng nở mùa hè không ghen tị với cây nghênh xuân bung nở vào mùa xuân; cây bám chặt rễ dưới đất băng giá để kiên trì chờ mùa xuân đến).
Tác dụng: Về mặt biểu đạt: Làm cho lời văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm và thuyết phục người đọc. Về mặt nội dung: Minh chứng rõ ràng cho tư tưởng "bắt chước thiên nhiên" – sống cống hiến, tập trung vào giá trị của bản thân thay vì đố kị hay phụ thuộc vào ánh nhìn của người khác. Từ đó khẳng định quy luật: ai kiên trì giữ vững niềm tin và nỗ lực rồi cũng sẽ đến thời điểm tỏa sáng rực rỡ nhất
Câu 4 :
Mục đích của người viết: Thức tỉnh con người ngừng việc so sánh, đố kị cuộc đời của mình với "khu vườn" của người khác. Khuyên con người cần có sự kiên nhẫn, kiên trì tích lũy giá trị bản thân, biết chấp nhận quy luật tự nhiên và trân trọng hành trình riêng của chính mình. Hướng con người tới một lối sống hạnh phúc đích thực, bình yên trong tâm hồn bằng cách tập trung chăm sóc "khu vườn" cuộc đời mình.
Câu 5 :
Tôi đồng tình với quan điểm trên vì thiên nhiên vận hành theo quy luật tự nhiên rất thuần khiết, hoa đến mùa sẽ nở, cây đến lúc sẽ thay lá, tất cả đều lặng lẽ dâng hiến vẻ đẹp mà không cần sự tán thưởng hay phán xét của ai. Khi con người "bắt chước thiên nhiên", chúng ta sẽ rũ bỏ được áp lực từ dư luận, áp lực đồng trang lứa (peer pressure), không sống giả tạo để vừa lòng người khác. Khi đó, ta được là chính mình, tự do phát triển giá trị cốt lõi và tìm thấy sự bình yên, hạnh phúc tự thân.
Câu 1 :
Trong đoạn trích "Thổn thức gió đồng" của Dương Giao Linh, diễn biến tâm trạng của nhân vật "tôi" (Lâm) được khắc họa vô cùng tinh tế và chân thực qua cuộc đoàn tụ đầy xúc động. Ban đầu, khi trở về, "tôi" mang một nỗi niềm trĩu nặng: vừa bất an trước sự đổi thay xô bồ của làng quê, vừa xót xa trước đôi bàn tay gầy rộc lam lũ của người mẹ. Thế nhưng, không gian trầm lặng ấy đột ngột bị phá vỡ khiến nhân vật rơi vào trạng thái "thảng thốt", ngỡ ngàng khi nhận ra dì Lam – người dì tội nghiệp sau bao năm biệt tích nay bỗng trở về. Sự ngỡ ngàng nhanh chóng nhường chỗ cho niềm xúc động khôn nguôi khi Lâm thấy dì vẫn giữ được sự bình thản, an vui bên đứa con gái nhỏ. Cao trào cảm xúc của "tôi" được đẩy lên đỉnh điểm khi chứng kiến giọt nước mắt của mẹ lúc gặp lại dì. Đó là lần đầu tiên Lâm thấy mẹ khóc – giọt nước mắt xóa nhòa mọi hờn giận, mở ra sự bao dung, chở che. Để rồi cuối cùng, từ những trải nghiệm của mẹ và dì, tâm trạng Lâm lắng lại thành những suy tư, thấu hiểu sâu sắc về lẽ sống, về bản lĩnh kiên cường và cả sự "đanh trắc" lại của trái tim như một cách tự vệ trước những giông bão cuộc đời. Qua dòng lưu chuyển tâm trạng ấy, người đọc không chỉ cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm, giàu tình thương của nhân vật "tôi" mà còn thấu suốt giá trị thiêng liêng của tình thân gia đình.
Câu 2 :
Năm 2025, Việt Nam vừa long trọng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhìn lại hành trình nửa thế kỷ qua, chúng ta không khỏi tự hào trước một đất nước thay da đổi thịt, vững bước hội nhập. Thế nhưng, song hành với sự phát triển vượt bậc về kinh tế và công nghệ, xã hội lại đang phải đối mặt với một góc tối đáng suy ngẫm: văn hóa ứng xử nơi công cộng của một bộ phận thế hệ trẻ ngày nay.
Văn hóa ứng xử nơi công cộng là tập hợp những chuẩn mực đạo đức, hành vi, lời ăn tiếng nói và cách tôn trọng không gian chung giữa người với người. Đối với thế hệ trẻ – những "công dân toàn cầu" năng động, họ đang sở hữu nhiều điểm sáng trong lối sống. Không khó để bắt gặp những bạn trẻ sẵn sàng cúi đầu chào bác bảo vệ, xếp hàng ngay ngắn tại ga tàu điện ngầm Cát Linh, hay nhiệt tình tham gia các chiến dịch dọn rác, bảo vệ môi trường. Đó là biểu hiện của một thế hệ văn minh, tri thức và giàu lòng trắc ẩn.
Tuy nhiên, bên cạnh những mảng màu sáng ấy, không ít hành vi ứng xử thiếu văn hóa của người trẻ vẫn đang diễn ra hằng ngày, trở thành nỗi nhức nhối lớn. Ngay tại không gian linh thiêng hay những danh lam thắng cảnh, chúng ta vẫn thấy những nam thanh nữ tú thản nhiên mặc trang phục hở hang, cười đùa oang oang hay vô tư "check-in" bất chấp biển cấm. Trên xe buýt hay trong rạp chiếu phim, không ít bạn trẻ thản nhiên nói tục chửi thề, bật loa ngoài điện thoại hết cỡ hoặc gác chân lên ghế phía trước. Thậm chí, không gian công cộng số – không gian mạng – cũng bị ô nhiễm bởi những "anh hùng bàn phím" sẵn sàng buông lời lăng mạ, lùng sục thông tin cá nhân và bạo lực mạng chỉ vì một bất đồng quan điểm nhỏ.
Nguyên nhân của thực trạng này đến từ đâu? Trước hết, đó là do cái tôi ích kỷ, lối sống vị kỷ, xem nhẹ giá trị cộng đồng của một số cá nhân. Họ nhầm tưởng sự tự do là có quyền làm bất cứ điều gì mình thích mà quên mất rằng tự do của bản thân phải giới hạn trong sự tôn trọng người khác. Bên cạnh đó, sự buông lỏng trong giáo dục gia đình và nhà trường, vốn quá nặng về dạy kiến thức mà nhẹ phần dạy làm người, cùng áp lực từ những xu hướng độc hại trên mạng xã hội đã trực tiếp làm lệch lạc nhận thức của giới trẻ.
Hậu quả của lối ứng xử thiếu văn hóa này không hề nhỏ. Nó làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội, tạo ra một môi trường sống ngột ngạt, thiếu an toàn và đẩy xa khoảng cách giữa con người. Đáng buồn hơn, hành vi của một bộ phận nhỏ có thể làm xấu đi hình ảnh của cả một thế hệ, thậm chí ảnh hưởng đến bộ mặt quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế.
Để xây dựng một không gian công cộng văn minh, bản thân mỗi người trẻ cần phải tự thức tỉnh. Học vấn không chỉ đo bằng bằng cấp, mà phải được thể hiện qua hành động hằng ngày. Hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: biết nói lời "cảm ơn" và "xin lỗi", biết nhường ghế cho người già, biết giữ yên lặng nơi tôn nghiêm và học cách lắng nghe trên không gian mạng. Đồng thời, xã hội cũng cần có những chế tài xử phạt nghiêm khắc hơn đối với các hành vi bôi bẩn không gian chung.
Hành trình bước ra thế giới của Việt Nam có vững vàng hay không phụ thuộc rất lớn vào phông văn hóa của thế hệ trẻ. Thay đổi một thói quen xấu nơi công cộng không khó, điều quan trọng là chúng ta có dám gạt bỏ sự ích kỷ của bản thân để hướng tới cái chung hay không. Đừng để sự thiếu ý thức làm mờ đi hào quang của một thế hệ trẻ năng động và đầy tự hào.
Câu 1:
Dấu hiệu : người kể chuyện xưng tôi
Ngôi kể : ngôi thứ nhất
Câu 2 :
Các chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê nơi nhân vật " tôi " sinh sống :
- Người dân chuyển từ làm nông nghiệp( cấy lúa, trồng rau) sang làm thợ xây và làm thuê cho dự án.
- Cuộc sống bớt lam lũ và cơ cực về mặt vật chất.
- Âm thanh của làng quê thay đổi : tiếng còi xe và nhạc băng ầm ĩ thay thế những lời hát ru con.
- Những ngôi nhà trong làng trở nên khang trang hơn.
Câu 3 :
- Phép tu từ : điệp từ " tháng năm "
- Tác dụng :
+ Tạo nhịp điệu và sự liên kết trong hai câu văn
+ Nhấn mạnh sụ trôi chảy của dòng thời gian vừa có thể tàn phá , làm suy yếu con người về mặt thể chất nhưng đồng thời cũng là môi trường để ý chí con người được rèn giũa , trở nên mạnh mẽ hơn. Qua đó thể hiện những suy tư , chiêm nghiệm về cuộc sống.
Câu 4 :
Sự phù hợp về điểm nhìn trần thuật trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích :
- Chủ đề : tình cảm gia đình, tình yêu quê hương sâu sắc và bản lĩnh sống của con người giữa những biến động của cụôc sống.
- Điểm nhìn ngôi thứ nhất ( qua lời kể của nhân vật " tôi " ) rất phù hợp trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích :
+ Giúp người đọc trực tiếp cảm nhận được những thay đổi của làng quê qua lăng kính của một người gắn bó với nơi đó từ nhỏ, từ đó thấy được tình yêu,nỗi nhớ quê hương tha thiết.
+ Thể hiện tình cảm chân thành, sâu sắc của nhân vật " tôi " dành cho gia đình.
Câu 5 :
Sự thay đổi là điều cần thiết,đó là quy luật phát triển tất yếu của xã hội. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Sự thay đổi cần được triển khai thận trọng, cân nhắc,đúng mực bởi đô thị hóa và công nghiệp có thể làm phai nhạt những giá trị văn hóa truyền thống,những nét đẹp bình dị của làng quê.