Nguyễn Thị Bích Ngọc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Bài làm:
Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hướng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.
Câu 2: Bài làm:
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.
Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.
Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũn...
Câu 1:
Bài làm
Trong cuốn tiểu thuyết Nhà giả kim, Paul Coelho đã để lại một thông điệp sâu sắc về hành trình trưởng thành của con người qua câu nói: Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần. Hình ảnh ngã bảy lần tượng trưng cho những khó khăn, thất bại và những lần vấp ngã đau đớn mà bất kỳ ai cũng phải đối mặt trên đường đời. Tuy nhiên, điều cốt lõi không nằm ở việc chúng ta ngã bao nhiêu lần, mà nằm ở hành động đứng dậy tám lần. Con số tám lớn hơn bảy chính là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, ý chí sắt đá và niềm tin không bao giờ tắt. Thất bại thực chất là một phần tất yếu của thành công, nó giúp chúng ta nhận ra những điểm yếu của bản thân, rèn luyện bản lĩnh và tích lũy những bài học quý giá mà không trường lớp nào dạy được. Nếu chúng ta đầu hàng ngay từ lần ngã đầu tiên, cuộc đời sẽ mãi là một trang giấy trắng không có dấu ấn. Ngược lại, việc dám đối mặt và đứng lên sau mỗi lần vấp ngã giúp con người trở nên mạnh mẽ và vững vàng hơn. Câu nói nhắc nhở mỗi chúng ta rằng bí mật của một cuộc đời rực rỡ không phải là một con đường bằng phẳng, mà là khả năng tự phục hồi và tiếp tục bước đi sau mỗi cơn bão. Hãy luôn giữ cho mình tâm thế của một chiến binh, bởi sau mỗi lần đứng dậy, chúng ta lại tiến gần hơn đến đích đến của cuộc đời mình.
Câu 2:
Bài làm
Nguyễn Trãi không chỉ là một anh hùng dân tộc, một nhà chính trị lỗi lạc mà còn là một hồn thơ tinh tế, luôn tha thiết với thiên nhiên và cuộc đời. Trong tập Quốc âm thi tập, chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) chính là nơi kết tinh những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nhân thế và cốt cách con người. Bài thơ số 33 trong chùm thơ này là một bức tranh tâm cảnh tuyệt đẹp, thể hiện lối sống thanh cao, rời xa danh lợi để tìm về với sự tĩnh lặng của tâm hồn.
Mở đầu bài thơ, tác giả bày tỏ thái độ dứt khoát trước chốn quan trường hiểm hóc. Ông dùng hình ảnh bể triều quan để chỉ con đường công danh vốn nhiều sóng gió, bất trắc. Việc dùng từ ngại cho thấy một sự tỉnh táo, thấu hiểu quy luật của cuộc đời; ông chọn cách lui tới để giữ cho mình một phận an, một cuộc sống thuận theo thời thế mà không bị cuốn vào vòng xoáy tranh giành. Đây không phải là sự trốn tránh trách nhiệm mà là sự lựa chọn lối sống bảo vệ nhân cách trong sạch của một bậc đại phu.
Bốn câu thơ tiếp theo mở ra một không gian sống thanh tĩnh và tràn đầy mỹ cảm. Nguyễn Trãi không còn là vị quan đầu triều đầy quyền lực, mà trở thành một thi sĩ sống hòa quyện cùng cỏ cây. Ông hé cửa đêm chờ hương quế lọt và quét hiên ngày lệ bóng hoa tan. Những hành động ấy tinh tế đến lạ kỳ. Ông trân trọng từng làn hương quế trong đêm, lo sợ cái chổi của mình làm tan đi vẻ đẹp mong manh của bóng hoa rơi trên hiên nhà. Tâm hồn ấy phải nhạy cảm và yêu cuộc đời đến nhường nào mới có thể cảm nhận được những chuyển động khẽ khàng nhất của tạo hóa. Bên cạnh đó, ông vẫn nhắc đến các bậc tiền hiền như Y Doãn, Phó Duyệt hay đạo Khổng, Nhan Hồi để khẳng định rằng dù sống ẩn dật, ông vẫn luôn giữ vững đạo lý, rèn luyện trí tuệ và phẩm giá như các bậc thánh hiền xưa.
Đến hai câu thơ cuối, mạch cảm xúc dồn nén lại trong một lời tổng kết về triết lý sống. Tác giả tự nhủ rằng việc chịu ở vị trí thấp kém, chịu thua thiệt ở đời đôi khi lại là cách để giữ được sự cao khiết. Câu kết danh lợi bất như nhàn chính là lời khẳng định giá trị cuối cùng. Đối với Nguyễn Trãi, mọi vinh hoa phú quý hay danh tiếng hào nhoáng cũng không thể sánh bằng sự thảnh thơi trong tâm hồn. Chữ nhàn ở đây mang ý nghĩa tích cực, đó là sự tự do về tinh thần, là khi con người không còn bị lòng tham và sự đố kỵ trói buộc.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn một cách linh hoạt, tạo nên nhịp điệu lúc khoan lúc nhặt như hơi thở của cuộc sống bình dị. Việc vận dụng khéo léo các điển tích kết hợp với hình ảnh thiên nhiên gần gũi đã làm nên sức hấp dẫn riêng biệt cho thi phẩm.
Bài thơ Bảo kính cảnh giới bài 33 đã cho thấy một góc nhìn nhân văn của Nguyễn Trãi về hạnh phúc. Qua đó, người đọc không chỉ cảm phục tài năng văn chương mà còn thêm trân trọng một nhân cách lớn, một con người luôn biết giữ mình thanh sạch giữa những biến động của cuộc đời. Tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về việc tìm kiếm sự bình yên thực sự trong tâm hồn giữa một thế giới đầy rẫy những cám dỗ vật chất.
Câu 1:
Bài làm
Trong cuốn tiểu thuyết Nhà giả kim, Paul Coelho đã để lại một thông điệp sâu sắc về hành trình trưởng thành của con người qua câu nói: Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần. Hình ảnh ngã bảy lần tượng trưng cho những khó khăn, thất bại và những lần vấp ngã đau đớn mà bất kỳ ai cũng phải đối mặt trên đường đời. Tuy nhiên, điều cốt lõi không nằm ở việc chúng ta ngã bao nhiêu lần, mà nằm ở hành động đứng dậy tám lần. Con số tám lớn hơn bảy chính là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, ý chí sắt đá và niềm tin không bao giờ tắt. Thất bại thực chất là một phần tất yếu của thành công, nó giúp chúng ta nhận ra những điểm yếu của bản thân, rèn luyện bản lĩnh và tích lũy những bài học quý giá mà không trường lớp nào dạy được. Nếu chúng ta đầu hàng ngay từ lần ngã đầu tiên, cuộc đời sẽ mãi là một trang giấy trắng không có dấu ấn. Ngược lại, việc dám đối mặt và đứng lên sau mỗi lần vấp ngã giúp con người trở nên mạnh mẽ và vững vàng hơn. Câu nói nhắc nhở mỗi chúng ta rằng bí mật của một cuộc đời rực rỡ không phải là một con đường bằng phẳng, mà là khả năng tự phục hồi và tiếp tục bước đi sau mỗi cơn bão. Hãy luôn giữ cho mình tâm thế của một chiến binh, bởi sau mỗi lần đứng dậy, chúng ta lại tiến gần hơn đến đích đến của cuộc đời mình.
Câu 2:
Bài làm
Nguyễn Trãi không chỉ là một anh hùng dân tộc, một nhà chính trị lỗi lạc mà còn là một hồn thơ tinh tế, luôn tha thiết với thiên nhiên và cuộc đời. Trong tập Quốc âm thi tập, chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) chính là nơi kết tinh những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nhân thế và cốt cách con người. Bài thơ số 33 trong chùm thơ này là một bức tranh tâm cảnh tuyệt đẹp, thể hiện lối sống thanh cao, rời xa danh lợi để tìm về với sự tĩnh lặng của tâm hồn.
Mở đầu bài thơ, tác giả bày tỏ thái độ dứt khoát trước chốn quan trường hiểm hóc. Ông dùng hình ảnh bể triều quan để chỉ con đường công danh vốn nhiều sóng gió, bất trắc. Việc dùng từ ngại cho thấy một sự tỉnh táo, thấu hiểu quy luật của cuộc đời; ông chọn cách lui tới để giữ cho mình một phận an, một cuộc sống thuận theo thời thế mà không bị cuốn vào vòng xoáy tranh giành. Đây không phải là sự trốn tránh trách nhiệm mà là sự lựa chọn lối sống bảo vệ nhân cách trong sạch của một bậc đại phu.
Bốn câu thơ tiếp theo mở ra một không gian sống thanh tĩnh và tràn đầy mỹ cảm. Nguyễn Trãi không còn là vị quan đầu triều đầy quyền lực, mà trở thành một thi sĩ sống hòa quyện cùng cỏ cây. Ông hé cửa đêm chờ hương quế lọt và quét hiên ngày lệ bóng hoa tan. Những hành động ấy tinh tế đến lạ kỳ. Ông trân trọng từng làn hương quế trong đêm, lo sợ cái chổi của mình làm tan đi vẻ đẹp mong manh của bóng hoa rơi trên hiên nhà. Tâm hồn ấy phải nhạy cảm và yêu cuộc đời đến nhường nào mới có thể cảm nhận được những chuyển động khẽ khàng nhất của tạo hóa. Bên cạnh đó, ông vẫn nhắc đến các bậc tiền hiền như Y Doãn, Phó Duyệt hay đạo Khổng, Nhan Hồi để khẳng định rằng dù sống ẩn dật, ông vẫn luôn giữ vững đạo lý, rèn luyện trí tuệ và phẩm giá như các bậc thánh hiền xưa.
Đến hai câu thơ cuối, mạch cảm xúc dồn nén lại trong một lời tổng kết về triết lý sống. Tác giả tự nhủ rằng việc chịu ở vị trí thấp kém, chịu thua thiệt ở đời đôi khi lại là cách để giữ được sự cao khiết. Câu kết danh lợi bất như nhàn chính là lời khẳng định giá trị cuối cùng. Đối với Nguyễn Trãi, mọi vinh hoa phú quý hay danh tiếng hào nhoáng cũng không thể sánh bằng sự thảnh thơi trong tâm hồn. Chữ nhàn ở đây mang ý nghĩa tích cực, đó là sự tự do về tinh thần, là khi con người không còn bị lòng tham và sự đố kỵ trói buộc.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn một cách linh hoạt, tạo nên nhịp điệu lúc khoan lúc nhặt như hơi thở của cuộc sống bình dị. Việc vận dụng khéo léo các điển tích kết hợp với hình ảnh thiên nhiên gần gũi đã làm nên sức hấp dẫn riêng biệt cho thi phẩm.
Bài thơ Bảo kính cảnh giới bài 33 đã cho thấy một góc nhìn nhân văn của Nguyễn Trãi về hạnh phúc. Qua đó, người đọc không chỉ cảm phục tài năng văn chương mà còn thêm trân trọng một nhân cách lớn, một con người luôn biết giữ mình thanh sạch giữa những biến động của cuộc đời. Tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về việc tìm kiếm sự bình yên thực sự trong tâm hồn giữa một thế giới đầy rẫy những cám dỗ vật chất.
câu 1
Văn bản thông tin.
câu 2
Những hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi:
• Người buôn bán, người mua đều đi bằng xuồng, ghe
• Các ghe xuồng len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền
• Hàng hóa phong phú: trái cây, rau củ, bông kiểng, hàng gia dụng, thực phẩm…
• Cách rao hàng độc đáo bằng “cây bẹo” treo hàng hóa lên cao để khách nhìn từ xa
câu 3
Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản:
• Làm cho nội dung cụ thể, chân thực, đáng tin cậy
• Giúp người đọc hình dung rõ sự phân bố của các chợ nổi miền Tây
• Góp phần khẳng định giá trị văn hóa đặc trưng của từng vùng
câu 4
Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản:
• Hình ảnh “cây bẹo”, cách treo hàng hóa là phương tiện giao tiếp bằng thị giác
• Giúp người mua dễ nhận biết mặt hàng từ xa
• Làm nổi bật nét sáng tạo, thông minh, dân dã của người dân miền Tây
• Tăng tính sinh động, hấp dẫn cho văn bản
câu 5
Chợ nổi có vai trò về mặt kinh tế và tinh thần đối với đời sống người dân miền Tây:
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho người dân.
- Thể hiện nét đẹp văn hóa đặc trưng của miền Tây.
Như vậy, chợ nổi có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của người dân miền Tây.
Tác giả Lê Đạt triển khai quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" bằng cách khẳng định nhà thơ phải lao động miệt mài trên ngôn từ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ độc đáo của riêng mình. Điều này có nghĩa là "nhà thơ" không phải là danh xưng được ban sẵn mà phải được tạo ra qua việc "cày cuốc trên cánh đồng giấy", không ngừng tư duy, trăn trở để tạo ra phong cách riêng, sức gợi cảm và giá trị lâu bền cho tác phẩm.
Triển khai quan điểm của tác giả:
Nhấn mạnh sự lao động khổ công với ngôn từ: Tác giả coi sáng tạo thơ ca là một lao động đặc thù, đòi hỏi nhà thơ phải "cúc cung tận tụy", "dồn nén tâm huyết, tình cảm" vào từng con chữ. Họ phải "vất vả, tư duy, suy nghĩ, lựa chọn" để làm nên những sản phẩm ngôn từ độc đáo.
Khẳng định danh hiệu nhà thơ được "bầu lên" từ tác phẩm: Nhà thơ không được thừa nhận chỉ bởi danh xưng mà bởi chính những con chữ họ tạo ra. "Chữ bầu lên nhà thơ" có nghĩa là tác phẩm và ngôn ngữ của nhà thơ sẽ là thước đo để khẳng định giá trị và phong cách của họ.
Làm rõ "con đường thơ" là "số phận của một nhà thơ": Số phận của nhà thơ gắn liền với con đường họ đã đi trong thơ, với sự lựa chọn ngôn từ và hành trình "đấu tranh" với chữ. Sự tồn tại lâu bền của nhà thơ phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm và ý chí của họ trên con đường ấy.
Giải thích sự độc đáo và phong cách riêng: Việc "bầu cử chữ" giúp nhà thơ tạo ra "ngôn ngữ đặc sản", biến nó thành "ngôn ngữ độc nhất phong phú" cho tiếng mẹ đẻ, qua đó khẳng định phong cách nghệ thuật và tạo nên nét riêng không trùng lặp.
Đưa ra minh họa bằng ví dụ: Tác giả ví von nhà thơ như "người nông dân cày trên cánh đồng giấy", mồ hôi của họ đổ ra để "đổi lấy từng hạt chữ". Ví dụ về nhà thơ Hàn Mặc Tử cho thấy một người tài hoa, dù số phận ngắn ngủi, nhưng đã để lại "lối đi riêng" nhờ ngôn ngữ thơ độc đáo.
Trong phần 2 của bài "Chữ Bầu Lên Nhà", tác giả đưa ra các lí lẽ và dẫn chứng để tranh luận rằng ý nghĩa đích thực của chữ viết không nằm ở "nghĩa tiêu dùng" (nghĩa từ điển) mà ở các yếu tố hình thức và âm thanh, đặc biệt là trong mối quan hệ hữu cơ với câu thơ. Tác giả sử dụng các dẫn chứng và lý lẽ liên quan đến các tác phẩm thơ ca để chứng minh quan điểm này.
Lí lẽ: Tác giả cho rằng vẻ đẹp, âm thanh, sức gợi cảm và cấu trúc của chữ trong thơ có ý nghĩa quan trọng hơn cả nghĩa đen của từ.
Dẫn chứng: Để minh họa, tác giả có thể đưa ra những ví dụ cụ thể từ các bài thơ hoặc tác phẩm văn học, chỉ ra cách mà từ ngữ được sử dụng và sắp xếp để tạo ra một hiệu quả thẩm mỹ và âm thanh đặc biệt, vượt ra ngoài nghĩa thông thường của chúng.
Ý kiến "nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ" thể hiện nhà thơ phải trải qua lao động sáng tạo vất vả, gian khổ để có được những tác phẩm thơ ca đích thực. Hình ảnh "một nắng hai sương", "lầm lũi", "cánh đồng giấy", "đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ" nhấn mạnh quá trình lao động trí óc, công phu, miệt mài của nhà thơ, không hề đơn giản mà đòi hỏi sự nỗ lực, trăn trở và tâm huyết.
Lao động gian khổ: Nhà thơ không thể "thảnh thơi" mà phải làm việc "lầm lũi" trên "cánh đồng giấy" (cánh đồng chữ nghĩa).
Sự đánh đổi: Họ phải "đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ", tức là phải bỏ ra rất nhiều công sức, tâm huyết và mồ hôi mới có thể tạo ra được những con chữ, câu thơ giá trị.
Khẳng định phong cách: Quá trình sáng tạo "lầm lũi" đó giúp nhà thơ suy nghĩ, lựa chọn và trăn trở, từ đó tạo ra được "lối đi riêng" và khẳng định phong cách nghệ thuật của bản thân.
tác giả "rất ghét " cái quan niệm : các nhà thơ việt nam thường chín sớm nên lụi tàn và " không mê " các nhà thơ thần đồng , những người sống bằng vốn trời cho
- tác giả " ưa " những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng , tích góp từng câu hạt chữ
- tác giả nghĩ rằng mình đã hiểu đúng điều tác giả muốn nói