La Nguyên Lâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của La Nguyên Lâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:
Dấu hiệu nhận biết thể thơ:
Bài thơ có nhịp điệu linh hoạt, số chữ trong mỗi câu không cố định, gieo vần tự do, → thể thơ tự do.


Câu 2:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (trữ tình).


Câu 3:
Không gian và thời gian trong bài thơ:

  • Thời gian: Mùa xuân – gợi sự tươi mới, song cũng là thời điểm nhân vật trữ tình hồi tưởng quá khứ và cảm thấy nỗi buồn, tiếc nuối.
  • Không gian: Mở rộng từ cảnh vật thiên nhiên (“trăm hoa đua nở”, “chiều xuân vui vẻ”) đến không gian nội tâm sâu lắng, buồn thương của tác giả.

→ Gợi cảm giác đối lập giữa cảnh xuân tươi đẹp và tâm trạng sầu vương của con người.


Câu 4:
Nhân vật trữ tình bộc lộ những tâm trạng hoài niệm, tiếc nuối, buồn sầu trước thời thế và sự dang dở trong sự nghiệp văn chương, chí làm trai. Đồng thời thể hiện niềm tự hào, ý chí và tình yêu nước thầm kín dù gặp thất bại, vẫn giữ lòng son sắt.


Câu 5:
Phép đối được sử dụng nhiều trong bài, như:

  • “Dư đồ rách / nước non tô lại”
  • “Rồng Tiên phải giống ngu hèn mà cam”
  • “Gan vàng / tóc bạc / non xanh”

Tác dụng:

  • Làm nổi bật tính nhạc và nhịp điệu cho bài thơ.
  • Thể hiện sự đối lập giữa lý tưởng và hiện thực, giữa cảnh xuân vui và lòng người sầu, qua đó khắc họa sâu sắc tâm trạng đau đáu, bất lực nhưng vẫn kiên cường của thi nhân trước thời cuộc.

Câu 1:
Thể thơ: Thơ lục bát.


Câu 2:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (trữ tình).


Câu 3:
Mạch cảm xúc của bài thơ:
Từ nỗi nhớ thương, day dứt khi cha mẹ đã khuất, đến hồi tưởng công lao sinh thành, dưỡng dục, rồi hối tiếc vì chưa kịp báo hiếu, và cuối cùng là niềm mong ước cha mẹ được an vui nơi cõi Phật.


Câu 4:

  • Đề tài: Tình cảm, lòng biết ơn đối với cha mẹ.
  • Chủ đề: Ca ngợi công ơn sinh thành, dưỡng dục to lớn của cha mẹ và bày tỏ niềm thương nhớ, tiếc nuối, biết ơn sâu sắc của người con khi cha mẹ đã qua đời.

Câu 5:
Bài thơ nhắc em phải hiếu thảo, yêu thương và trân trọng cha mẹ khi còn có thể, sống tốt, chăm lo để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục, đừng để khi mất đi mới hối tiếc

Câu 1:
Thể thơ: Thơ tự do.


Câu 2:
Những hình ảnh miêu tả ngôi trường trong kí ức: “căn trường nho nhỏ”, “nước vôi xanh”, “bờ cỏ tươi non”, cùng “mùi thơm” thoảng gợi không gian trong trẻo, êm đềm của tuổi học trò.


Câu 3:
Câu thơ “Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp” thể hiện cảm xúc ngỡ ngàng, xúc động của nhân vật trữ tình trước vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên của tuổi trẻ. Cuộc đời quá tươi đẹp khiến con người chưa kịp buồn, chưa kịp lo toan đã bị vẻ đẹp ấy cuốn đi trong niềm say mê, yêu đời.


Câu 4:
Biện pháp tu từ: Ẩn dụ và hoán dụ.

  • “Cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ”, “Gió lùa thu trong lá bao lần” ẩn dụ cho sự trôi chảy của thời gian và tuổi trẻ.
  • “Mái tóc nay dần hết xanh” là hoán dụ chỉ sự già đi của con người.
    → Tác dụng: Gợi nỗi hoài niệm, tiếc nuối tuổi học trò và thời thanh xuân đã qua, đồng thời thể hiện sự tri ân, thương nhớ bạn bè, mái trường cũ.

Câu 5:
Bài thơ gợi cho em suy nghĩ rằng: Tuổi học trò và mái trường là khoảng thời gian đẹp nhất, hồn nhiên và trong sáng nhất của mỗi người. Dù thời gian trôi, kỉ niệm ấy vẫn luôn in sâu trong tâm hồn, nhắc ta biết trân trọng quá khứ, giữ gìn tình bạn, tình thầy trò và lòng biết ơn với mái trường xưa.