Vũ Trung Kiên
Giới thiệu về bản thân
Trong những năm gần đây nạn Bạo lực học đường là một vấn nạn lớn, làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục và các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Gây bức xúc và gây tâm lý hoang mang cho phụ huynh, thầy cô và học sinh. Vậy làm thế nào để giải quyết được tình trạng này. Chỉ cần lên Google đánh cụm từ "Học sinh đánh nhau" thì chỉ cần (0,08 giây) thì kết quả google tìm kiếm là 3.140.000 cụm từ liên quan đến việc học sinh dùng bạo lực để giải quyết những khúc mắc. Đây là một con số thật khủng khiếp và đáng báo động. Hoặc chỉ cần vào Youtube bạn sẽ thấy những hình ảnh, những thước phim bạo lực do học sinh quay lại và tung lên mạng. Những thước phim quay cảnh đấm đá vô nhân tính của các cô cậu mang đồng phục học trò đang đấm đá, xé áo, lột quần, túm tóc gây ám ảnh cho người xem và nỗi đau về một thế hệ tuổi trẻ với những nhân cách đang bị băng hoại nghiêm trọng. Những nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực thường là những hành vi do: học sinh cá biệt thành lập băng nhóm để ức hiếp bạn bè; do ảnh hưởng từ phim ảnh bạo lực; do ghen tị về thành tích học tập; do mâu thuẫn nhỏ trong bạn bè dẫn đến xích mích, nổi nóng thiếu kiềm chế; bên cạnh đó là những nguyên nhân cỏn con như "thích thì đánh cho nó chừa", "nhìn đểu". Nguyên nhân của những vụ việc trên có thể do học sinh bị tiêm nhiễm từ lối cư xử của các đối tượng bên ngoài nhà trường, thậm chí là những người lớn trong gia đình. Nhiều học sinh có cha mẹ hoặc người thân là những người hành nghề tự do trong xã hội và có cách cư xử không đúng chuẩn mực. Chính những thói quen ứng xử hằng ngày của họ đã vô tình gieo trong đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến việc các em có lối cư xử, hành xử không hay trong nhà trường với bạn bè.Bạo lực học đường để lại những hậu quả nghiêm trọng, khó lường:Gây tổn thương và gây dư chấn về tinh thần và thể xác: học sinh bị bạn bè đánh đập rồi bị quay phim tung lên mạng sẽ dễ bị chấn thương tâm lí, sốc về tinh thần, cảm thấy quê với bạn bè, xấu hổ với mọi người xung quanh. Đau lòng hơn nữa khi mà những học sinh bị đánh, thầy cô giáo bị hành hung không phải xây xát nhẹ mà phải nằm viện với di chứng về tổn thương thể xác. Bị gãy tay chân, bị chấn thương sọ não. Thậm chí bị hoảng loạn, bị thần kinh, bỏ học, bỏ dạy. Giải pháp nào cho Bạo lực học đường? Có Bốn giải pháp cấp thiết xóa bạo lực học đường:Toàn xã hội cần phải củng cố, nâng cao chất lượng môi trường xã hội, văn minh tiến bộ. Cần có biện pháp quản lý, ngăn chặn và chế tài hiệu quả những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa xã hội. Nghiêm cấm các game bạo lực.Quan tâm nâng cao văn hóa gia đình. Trong từng gia đình, người lớn phải làm gương, giao tiếp ứng xử đúng mực, mạnh dạn lên án và loại bỏ bạo lực ra khỏi đời sống gia đình.Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường – xã hội. Các cơ quan báo chí phải quan tâm thỏa đáng đối với lĩnh vực văn hóa, đạo đức và chấp hành luật pháp của mọi người dân.Xã hội và ngành giáo dục cần xác định rõ lại vai trò, vị trí của người thầy, quyền hạn và trách nhiệm trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh. Người thầy và nhà trường phải được bảo vệ danh dự và có đủ cơ chế để răn đe học sinh.Nhà trường cần phát huy trách nhiệm đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trong việc kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của từng cá nhân học sinh.Tình thương, trách nhiệm là phương thuốc hiệu nghiệm nhất ngăn chặn bạo lực học đường. Theo bản thân tôi: Học sinh cần nghiêm túc kiểm điểm lại bản thân, biết kiềm chế được, biết nhận lỗi khi mình làm sai và biết vị tha khi bạn nhận ra lỗi lầm.Với học sinh cá biệt, cần có sự quan tâm của gia đình - nhà trường - xã hội. Nếu tiếp tục vi phạm cần xử lý nghiêm bằng cách cho đi cải tạo, giáo dục nhân cách. Vì một môi trường học đường lành mạnh, Học sinh "HÃY NÓI KHÔNG VỚI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG". Mỗi người lớn trong gia đình phải là tấm gương lớn cho con em noi theo.
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là Nghị luận (hoặc Thuyết minh kết hợp nghị luận, tùy thuộc vào nội dung cụ thể của văn bản đi kèm). Thông thường, với các văn bản về di sản, phương thức chính là Thuyết minh.
Câu 2 Vào tối ngày 04/12/2024, di sản Mo Mường đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.
Câu 3 Vị trí: Thường nằm ở ngay dưới nhan đề (tiêu đề) và trước nội dung chi tiết của văn bản.Đặc điểm hình thức: Thường được in đậm, in nghiêng hoặc có cỡ chữ khác biệt so với thân bài để thu hút sự chú ý và tóm tắt nội dung chính.
Câu 4 Phương tiện: Hình ảnh (ví dụ: ảnh về buổi lễ vinh danh hoặc ảnh về di sản).Tác dụng: Giúp văn bản trở nên sinh động, trực quan, giúp người đọc dễ dàng hình dung về sự kiện và tăng sức thuyết phục cho thông tin.
Câu 5 Trạng ngữ (ví dụ): "Vào tối ngày 04/12/2024".Tác dụng: Xác định cụ thể thời gian diễn ra sự việc, giúp thông tin trở nên chính xác và khách quan hơn.
Câu 6 Việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia. Trước hết, di sản chính là "sợi dây" kết nối quá khứ với hiện tại, giúp chúng ta hiểu rõ về cội nguồn và bản sắc văn hóa của cha ông. Khi bảo tồn tốt di sản, chúng ta không chỉ khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế mà còn tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế thông qua du lịch bền vững. Hơn nữa, việc này còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm cho thế hệ trẻ. Vì vậy, bảo vệ di sản không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân để linh hồn dân tộc mãi trường tồn theo thời gian.
a)
Tên vương quốc phong kiến Tên quốc gia ngày nay Chăm-pa Việt Nam Pa-gan Mi-an-ma Ăng-co Campuchia Sri Vi-giay-a In-đô-nê-xi-a
b)
- Tên các vương quốc phong kiến ở Đông Nam Á từ thế kỉ VII đến thế kỉ X: Đại Cồ Việt; Cham-pa; Chân Lạp; Đva-ra-va-ti; Ha-ri-pun-giay-a; Tu-ma-síc; Bu-tu-an; Pa-gan; Pê-ru; Tha-tơn; Sri-vi-giay-a; Ka-lin-ga
a)
- Đất chứa nhiều rác thải sinh hoạt khó phân hủy như rác thải nhựa,… - Đất chứa chất thải không được xử lí trong sản xuất công nghiệp. - Đất nhiễm chất độc hại do thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp. - Đất nhiễm mặn do nước biển dâng cao
b)
Rác thải sinh hoạt Với mật độ dân số ngày càng cao thì lượng chất thải từ sinh hoạt hàng ngày của con người rất lớn, trong số đó có những chất thải rất khó phân hủy: chai nhựa, túi nilon,... Tất cả đều thải trực tiếp và ngày càng tăng nhiều dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất ngày một trầm trọng hơn.
Câu 1
Bài thơ "Cây đa" của Trần Đăng Khoa là một bức tranh quê hương mộc mạc, bình dị và đầy chất thơ. Hình ảnh cây đa cổ thụ hiện lên thật gần gũi, thân thuộc, như một người bạn, một chứng nhân của thời gian và cuộc sống làng quê. Cảm xúc chính mà bài thơ mang lại là sự ấm áp, yêu thương đối với vẻ đẹp giản dị, vững chãi của cây đa và tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương, cội nguồn. Qua từng câu chữ, người đọc cảm nhận được sự trân trọng của tác giả đối với thiên nhiên và những giá trị văn hóa truyền thống.
Câu 2
Bài văn kể lại một trải nghiệm đáng nhớ của em cùng người thân trong gia đình sẽ xoay quanh một kỷ niệm cụ thể, chẳng hạn như chuyến đi dã ngoại, buổi nấu ăn chung, hoặc một sự kiện đặc biệt. Mở bài: Giới thiệu về trải nghiệm đáng nhớ, diễn ra ở đâu, khi nào và cùng với ai. Thân bài: Kể lại diễn biến của sự việc theo trình tự thời gian. Miêu tả chi tiết các hoạt động, sự việc đã xảy ra, nhấn mạnh những khoảnh khắc vui vẻ, bất ngờ hoặc cảm động. Bày tỏ cảm xúc của bản thân trong suốt trải nghiệm và sau khi kết thúc. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của trải nghiệm đối với bản thân và tình cảm gia đình
Câu 1
Vần "ơi" (trong các từ "trời", "ngồi", "chơi") được gieo ở cuối các câu thơ đầu tiên của bài thơ (ví dụ: "Góc sân và khoảng trời", "Em ngồi cạy vảy", "Em chơi"). Đây là vần chân, tạo sự liên kết và nhịp điệu cho khổ thơ.
Câu 2
Cây đa trong bài thơ đã trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho những sự vật như con chim, con gà, con trâu, và cả ánh trăng. Hình ảnh cây đa là một hình ảnh quen thuộc, giản dị của làng quê Việt Nam, gắn liền với tuổi thơ của tác giả.
Câu 3
Bức tranh làng quê được miêu tả trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp giản dị, bình yên, trong trẻo và đầy sức sống. Các hình ảnh như con bướm vàng, dòng sông, vườn cải, cây trầu, và ông trăng đều rất gần gũi, thể hiện góc nhìn hồn nhiên của trẻ thơ về thế giới xung quanh.
Câu 4
Biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng hiệu quả trong khổ thơ thứ hai. Tác giả đã nhân cách hóa sự vật (ví dụ: ông trăng biết "nhoẻn miệng cười", "thập thò ngoài cửa rủ bạn đi chơi") làm cho thế giới tự nhiên trở nên sống động, gần gũi và đáng yêu hơn trong mắt trẻ thơ. Điều này giúp phát triển trí tưởng tượng cho người đọc và nuôi dưỡng tâm hồn yêu văn học.
Câu 5
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi cho em những cảm xúc ấm áp, gần gũi và tình yêu sâu sắc với quê hương. Em cảm nhận được vẻ đẹp bình dị, thanh bình của cuộc sống nông thôn Việt Nam. Để giữ gìn những vẻ đẹp đáng quý đó, em sẽ cố gắng học tập thật tốt, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường địa phương, và giới thiệu những nét đẹp văn hóa, thiên nhiên của quê hương mình đến với bạn bè. Em tin rằng, việc trân trọng và phát huy những giá trị truyền thống cũng là cách để giữ gìn quê hương mãi xanh tươi, đẹp đẽ.
Bài làm
Kỉ niệm đáng nhớ nhất trong tuổi thơ của em là lần đầu tiên em tự mình đi được chiếc xe đạp. Đó là vào một buổi chiều mùa hè năm em học lớp Ba, tại sân đình làng. Em đã tập đi xe đạp từ lâu nhưng lần nào cũng ngã. Bố em kiên nhẫn cầm đằng sau xe, chạy theo em hàng chục vòng. Khi em đã quen tay lái, bố bất ngờ buông tay. Em không hề hay biết, cứ thế đạp thẳng về phía trước. Cảm giác lúc đó thật khó tả: vừa sợ hãi, vừa hồi hộp, nhưng trên hết là niềm vui sướng vỡ òa khi thấy mình làm được. Tiếng reo hò của bố và nụ cười rạng rỡ của em ngày hôm ấy vẫn in đậm trong tâm trí em. Kỉ niệm đó dạy em rằng, chỉ cần kiên trì và cố gắng, chúng ta sẽ vượt qua mọi thử thách.
Câu 1
thơ lục bát Thể thơ của văn bản là thơ lục bát, dấu hiệu nhận biết là sự luân phiên của các dòng thơ sáu chữ và tám chữ.
Câu 2
biểu cảm Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là biểu cảm, nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người cháu đối với người bà đã khuất.
Câu 3
biện pháp tu từ nhân hóa Trong hai dòng thơ "ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ổi đã cây nào ra bông", tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa (qua hành động "thăm" của ngoại và "ngỡ ngàng" của sự vật trong các khổ thơ khác). Tác dụng: Thể hiện sự gắn bó sâu sắc của ngoại với những vật dụng, cảnh vật đời thường trong gia đình. Diễn tả nỗi nhớ thương da diết của người cháu, cảm giác như ngoại vẫn còn hiện hữu, chăm sóc mọi thứ. Tạo nên hình ảnh thơ gần gũi, ấm áp và giàu sức gợi cảm.
Câu 4
nghĩa của hai dòng thơ Hai dòng thơ "từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con" thể hiện: Niềm tin của người cháu rằng ngoại đã về thế giới bên kia (Thiên Đàng). Tình cảm sâu đậm, sự hiện diện tinh thần vĩnh cửu của ngoại trong tâm trí người cháu. Dù không còn sống bên cạnh, ngoại vẫn dõi theo, che chở và là điểm tựa tinh thần dịu dàng cho con (người cháu).
Câu 5
bài học về tình thân Qua bài thơ, em rút ra được bài học về sự trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu. Chúng ta cần biết ơn, yêu thương và dành thời gian cho những người thân yêu khi họ còn sống.
Câu 6
cảm nhận về bài thơ Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" là một tác phẩm đầy xúc động về tình bà cháu. Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát truyền thống cùng những hình ảnh mộc mạc, giản dị để bộc lộ nỗi nhớ thương da diết dành cho người bà đã khuất. Bài thơ không chỉ là lời tự sự của người cháu khi trở về thăm nhà mà còn là sự thức tỉnh về giá trị của tình thân. Nó nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng những khoảnh khắc bên gia đình, bởi khi mất đi rồi, những ký ức đẹp đẽ ấy sẽ trở thành niềm an ủi, vỗ về tâm hồn.
Câu 1
(a) Bài thơ vẽ nên một bức tranh chân thực, giản dị về cảnh chợ quê Việt Nam, từ không gian họp chợ, những mặt hàng mộc mạc, đến hình ảnh người mẹ nghèo khó và bác xẩm mù. Bài thơ "Chợ quê" của Nguyễn Đức Mậu mở ra một không gian chợ quê mộc mạc, gần gũi và đầy chất thơ. Hình ảnh chợ họp ở "bờ đê" gợi sự dân dã, quen thuộc của làng quê Bắc Bộ. Những mặt hàng được bày bán như "rau dưa", "lá trầu", "chuối vừa chín cây", "thúng khoai đầy", "đôi lợn giống", "bầy gà con" đều là những sản vật bình dị, gắn bó mật thiết với đời sống nông thôn. Đặc biệt, hình ảnh "Mẹ già áo vá chắt bòn từng xu" và "bác xẩm mù" hát ru não lòng đã chạm đến trái tim người đọc, khắc họa sâu sắc sự tần tảo, nghèo khó nhưng đầy tình người nơi thôn dã. Tác giả đã sử dụng ngôn từ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi cảm, giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp văn hóa truyền thống và tình cảm chân thành dành cho quê hương. Đoạn thơ không chỉ là một bức tranh về chợ mà còn là một lát cắt về đời sống tinh thần, về những con người lao động lam lũ mà kiên cường của Việt Nam.
Câu 2
: (a) Bài văn nên tập trung kể về một kỉ niệm cụ thể, có mở đầu, diễn biến (chi tiết sự việc, cảm xúc), và kết thúc, làm nổi bật tình cảm gia đình. Để viết một bài văn kể lại kỉ niệm sâu sắc với người thân, em cần chọn một sự việc đáng nhớ, có ý nghĩa. Bài văn nên có bố cục ba phần rõ ràng: mở bài giới thiệu kỉ niệm và người thân liên quan; thân bài kể chi tiết diễn biến sự việc theo trình tự thời gian, lồng ghép cảm xúc, suy nghĩ của bản thân; và kết bài nêu cảm nghĩ sâu sắc về kỉ niệm đó và tình cảm dành cho gia đình. Kỉ niệm có thể là một chuyến đi chơi, một bữa cơm sum họp, hay một hành động quan tâm nhỏ nhặt nhưng ấm áp. Quan trọng là làm nổi bật được tình cảm yêu thương, sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình qua kỉ niệm được kể.
Câu 1
Ngôi kể thứ nhất
Văn bản "Buổi đầu tiên học trường Yên Phụ" được viết bằng ngôi kể thứ nhất, với nhân vật "tôi" xưng "tôi" để kể lại câu chuyện của chính mình. Điều này giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi và bộc lộ rõ những suy nghĩ, cảm xúc nội tâm của nhân vật.
Câu 2
Hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn Trước khi vào học Trường Yên Phụ, nhân vật "tôi" có hoàn cảnh học tập khá khó khăn, thiếu thốn: Phải tự học ở nhà, không có thầy cô hướng dẫn bài bản. Thiếu sách vở, đồ dùng học tập. Phải làm việc nhà, phụ giúp gia đình nên không có nhiều thời gian cho việc học.
Câu 3
Nội dung bài Tựa và giá trị khẳng định Nội dung bài Tựa: Bài Tựa của cuốn "Thế hệ ngày mai" viết về tầm quan trọng của giáo dục, sự tiếp nối giữa các thế hệ và niềm tin vào tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ. Giá trị khẳng định: Thông qua chi tiết "hai thế hệ một tấm lòng, một tinh thần", tác giả muốn khẳng định giá trị của sự đồng lòng, đoàn kết, thấu hiểu và truyền thống hiếu học tốt đẹp giữa thế hệ đi trước và thế hệ mai sau.
Câu 4
Phẩm chất đáng quý của người cha Nhân vật người cha hiện lên với những phẩm chất đáng quý như: Yêu thương con vô điều kiện: Chi tiết người cha chuẩn bị quần áo, sách vở mới cho con, đưa con đến trường trong buổi học đầu tiên thể hiện tình yêu thương sâu sắc. Quan tâm đến việc học hành của con: Chi tiết người cha dặn dò con cố gắng học tập, hỏi han tình hình học tập của con cho thấy sự quan tâm chu đáo. Có trách nhiệm và hy sinh vì con: Chi tiết người cha phải làm việc vất vả để có tiền cho con đi học thể hiện trách nhiệm và sự hy sinh lớn lao.
Câu 5
Suy nghĩ về trách nhiệm của cha mẹ Từ câu chuyện buổi đầu đi học của nhân vật "tôi", em nhận thấy trách nhiệm của cha mẹ đối với việc học tập của con cái là vô cùng quan trọng. Cha mẹ không chỉ là người sinh thành mà còn là người định hướng, tạo điều kiện và đồng hành cùng con trên con đường học vấn. Trách nhiệm đó bao gồm việc chuẩn bị đầy đủ vật chất, tinh thần, động viên, khích lệ và là tấm gương sáng cho con noi theo. Sự quan tâm, hy sinh của cha mẹ là động lực to lớn giúp con vượt qua khó khăn, nỗ lực học tập và trưởng thành.