Trần Nguyễn Đăng Khoa

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Nguyễn Đăng Khoa
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2.Nhân vật trữ tình bày tỏ lòng biết ơn đối với:

Những cánh sẻ nâu, thiên nhiên tuổi thơ.

Người mẹ.

Những trò chơi tuổi nhỏ và tiếng Việt.

Những dấu chân trên con đường đời, những trải nghiệm của cuộc sống.



Câu 3.Dấu ngoặc kép trong dòng thơ “Chuyền chuyền một…” dùng để trích dẫn lời nói quen thuộc của trò chơi dân gian, gợi lại kỉ niệm tuổi thơ sinh động và gần gũi.


Câu 4.Phép lặp cú pháp “Biết ơn…” được lặp lại nhiều lần có tác dụng:

Nhấn mạnh tình cảm biết ơn sâu sắc của nhân vật trữ tình.

Tạo nhịp điệu cho bài thơ, làm cảm xúc trở nên tha thiết và chân thành.



Câu 5.Thông điệp ý nghĩa nhất là con người cần biết trân trọng và biết ơn những điều bình dị trong cuộc sống như gia đình, tuổi thơ, quê hương và những trải nghiệm đã làm nên con người mình. Điều đó giúp chúng ta sống có ý nghĩa và trưởng thành hơn.


Câu 1.Đoạn trích kể về cô gái đau khổ chạy đi cầu xin mọi người giúp đỡ để được ở bên người mình yêu nhưng đều bị từ chối, cuối cùng phải chấp nhận sự sắp đặt của cha mẹ.


Câu 2.Đoạn trích có lời của các nhân vật:

Cô gái (nhân vật “em”)

Những người trong bản/làng (bác trai, chị em dâu rể trong nhà)

Chim cu (lời chim cất lên như lời nhắn nhủ).


Câu 3.Những câu thơ thể hiện tâm trạng đau khổ, lo lắng, tuyệt vọng và nhớ thương người yêu da diết của cô gái khi bị ngăn cấm tình yêu.


Câu 4.Biện pháp so sánh: “Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa / Bằng con chẫu chuộc thôi.”

Tác dụng:

Làm nổi bật thân phận nhỏ bé, yếu đuối, thấp kém của cô gái trong xã hội.

Thể hiện nỗi tủi thân, đau khổ và bất lực trước sự sắp đặt của cha mẹ.


Câu 5.Quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” trong hôn nhân là một quan niệm lạc hậu vì tước đi quyền tự do lựa chọn hạnh phúc của con cái. Hôn nhân cần được xây dựng trên tình yêu, sự tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau. Cha mẹ có thể góp ý, định hướng nhưng không nên ép buộc con cái kết hôn theo ý mình. Khi được tự do lựa chọn, con người sẽ dễ xây dựng một gia đình hạnh phúc hơn.

Câu 1.Có thể xác định đoạn trích thuộc thể loại truyện thơ vì:


  • Tác phẩm được viết bằng thơ.
  • Nội dung kể lại một câu chuyện có nhân vật, sự việc và diễn biến (chuyện tình Chàng Lú – Nàng Ủa).



Câu 2.Người cha thể hiện sự ngăn cấm quyết liệt bằng cách: nổi giận, quát mắng và đe dọa khi biết chuyện, thể hiện qua câu: “Hễ mày còn bướng thì tao chặt đầu!”.


Câu 3.Những hành động cho thấy tình cảm của Chàng Lú dành cho Nàng Ủa:


  • Sợ nàng gặp nguy nên vội đi tìm.
  • Gọi, chạy lại, bế và bồng nàng khi gặp.
  • Bày tỏ tình yêu tha thiết, sẵn sàng hi sinh vì nàng.



Câu 4.Tình cảm của Chàng Lú và Nàng Ủa dành cho nhau rất chân thành, sâu sắc và thủy chung. Dù bị gia đình ngăn cản, họ vẫn yêu thương, lo lắng và sẵn sàng hi sinh cho nhau.


Câu 5.Qua văn bản, em cho rằng hôn nhân cưỡng ép là sai trái vì nó tước đi quyền tự do yêu thương và lựa chọn hạnh phúc của mỗi người. Hôn nhân chỉ thật sự bền vững khi được xây dựng trên tình yêu và sự tự nguyện. Việc ép buộc kết hôn có thể gây đau khổ cho những người trong cuộc. Vì vậy, mỗi người cần được tôn trọng quyền quyết định hôn nhân của mình.


Câu 1.Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2.Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh biển đảo và đất nước:

Hoàng Sa. bám biển. Biển Tổ quốc. mái. ngư dân. sóng



Câu 3.Biện pháp tu từ so sánh: “Như máu ấm trong màu cờ nước Việt” Tác dụng: Làm nổi bật hình ảnh Tổ quốc luôn gần gũi, thiêng liêng, gắn bó sâu sắc với mỗi con người Việt Nam; đồng thời thể hiện tình yêu và niềm tự hào về đất nước.



Câu 4.Đoạn trích thể hiện tình yêu sâu sắc, niềm tự hào và ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời ca ngợi sự hi sinh, kiên cường của những con người ngày đêm giữ biển.


Câu 5.Mỗi người trẻ hôm nay cần có trách nhiệm trong việc bảo vệ biển đảo quê hương. Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ chủ quyền biển đảo của đất nước và luôn nuôi dưỡng lòng yêu nước. Bên cạnh đó, cần tích cực tuyên truyền những thông tin đúng đắn về biển đảo Việt Nam. Học sinh cũng nên ra sức học tập, rèn luyện để sau này góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, chúng ta cần thể hiện sự biết ơn với những người đang ngày đêm canh giữ biển trời. Đó là cách thiết thực để bảo vệ biển đảo quê hương.


Câu 1.

Văn bản thể hiện tâm trạng nhớ quê, hoài niệm về quê hương của nhân vật trữ tình khi đang sống xa quê (ở Xan-di-ê-gô – Mỹ).


Câu 2.

Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê mình:


  • Nắng trên cao
  • Mây trắng bay
  • Đồi nhuộm vàng trên đỉnh ngọn



Câu 3.

Cảm hứng chủ đạo của văn bản là nỗi nhớ quê hương da diết của người sống xa quê.


Câu 4.


  • Khổ thơ thứ nhất: Nhân vật trữ tình nhìn nắng vàng, mây trắng và ngỡ như đang ở quê nhà (cảm giác gần gũi, quen thuộc).
  • Khổ thơ thứ ba: Nhìn lại những hình ảnh ấy nhưng chỉ càng làm nỗi nhớ quê thêm da diết, nhận ra mình đang ở nơi xa.



Câu 5.


Em ấn tượng nhất với hình ảnh “bụi đường cũng bụi của người ta” vì câu thơ thể hiện rõ cảm giác xa lạ, cô đơn của người xa quê; dù cảnh vật có giống quê hương nhưng vẫn không phải quê mình nên nỗi nhớ quê càng sâu sắc hơn.