Ngô Khôi Nguyên
Giới thiệu về bản thân
Trong những năm tháng tuổi thơ, tôi có một người bạn thân thiết tên là Lan. Chúng tôi cùng nhau lớn lên, chia sẻ biết bao niềm vui, nỗi buồn. Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất về Lan là chuyến đi cắm trại đầu tiên của chúng tôi.
Đó là vào một ngày hè nắng đẹp, khi chúng tôi quyết định tổ chức một chuyến đi cắm trại tại khu rừng gần nhà. Chúng tôi chuẩn bị đầy đủ đồ ăn, thức uống và các vật dụng cần thiết. Sáng sớm, cả hai háo hức lên đường, lòng tràn đầy niềm vui và mong chờ những trải nghiệm thú vị.
Khi đến nơi, chúng tôi chọn một khu đất bằng phẳng bên bờ suối để dựng lều. Lan, với đôi tay khéo léo, nhanh chóng dựng xong chiếc lều và bếp lửa trại. Chúng tôi cùng nhau nấu bữa trưa, những món ăn đơn giản nhưng lại vô cùng ngon miệng trong khung cảnh thiên nhiên hoang dã.
Buổi chiều, chúng tôi lang thang khám phá khu rừng, tìm kiếm những loài cây, hoa dại mà chúng tôi chưa từng thấy. Tiếng cười nói vui vẻ vang lên giữa không gian yên tĩnh của rừng. Đặc biệt, khi phát hiện ra một thác nước nhỏ, chúng tôi vui mừng như tìm thấy kho báu. Cả hai cùng nhau nhảy xuống tắm, nước mát lạnh làm tan biến hết mệt mỏi.
Tối đến, chúng tôi ngồi bên bếp lửa trại, kể cho nhau nghe những câu chuyện cổ tích, những ước mơ và dự định tương lai. Ánh lửa bập bùng, tiếng côn trùng râm ran và bầu trời đầy sao tạo nên một không gian kỳ diệu, khiến chúng tôi cảm thấy thời gian như ngừng lại.
Kỷ niệm về chuyến đi cắm trại đầu tiên với Lan luôn in đậm trong tâm trí tôi. Đó không chỉ là những trải nghiệm thú vị, mà còn là những khoảnh khắc gắn kết tình bạn, giúp chúng tôi hiểu và quý trọng nhau hơn. Mỗi lần nhớ lại, lòng tôi lại tràn đầy niềm vui và sự biết ơn vì đã có một người bạn thân thiết như Lan.
Đúng(0) VK Vũ Khánh Huyền 15 tháng 12Trong kí ức tuổi thơ của tôi, có biết bao kỉ niệm vui buồn. Nhưng có lẽ, kỉ niệm về ngày đầu tiên tôi được mẹ dắt tay đến trường vẫn là điều khiến tôi nhớ mãi không quên.
Ngày ấy, tôi mới sáu tuổi. Tôi còn nhớ rõ, sáng hôm đó, tôi dậy thật sớm, trong lòng vừa háo hức vừa lo sợ. Mẹ chuẩn bị cho tôi một bộ quần áo mới tinh, một chiếc cặp sách nhỏ xinh. Khi hai mẹ con bước ra khỏi nhà, ánh nắng ban mai vàng óng ả như reo vui cùng tôi. Trên đường đi, tôi nắm chặt tay mẹ, thỉnh thoảng lại hỏi mẹ đủ thứ chuyện về trường học. Trường học trong trí tưởng tượng của tôi là một nơi rất rộng lớn, có nhiều bạn bè và những điều thú vị.
Đến cổng trường, tôi hơi rụt rè. Khung cảnh thật nhộn nhịp, nhiều bạn nhỏ cũng đang được bố mẹ đưa đến. Tiếng cười nói râm ran khắp sân trường. Mẹ dẫn tôi vào lớp học, một cô giáo hiền từ đón tôi bằng nụ cười ấm áp. Cô xếp tôi ngồi cạnh một bạn gái có bím tóc dễ thương. Mẹ dặn dò tôi vài câu rồi ra về. Lúc mẹ đi khuất, tôi bắt đầu cảm thấy tủi thân và bật khóc. Cô giáo dỗ dành tôi, các bạn xung quanh cũng động viên tôi. Dần dần, tôi làm quen được với bạn mới, cùng các bạn tham gia vào các trò chơi và không còn khóc nữa.
Ngày đầu tiên đi học đã trôi qua như thế, để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc. Đó là kỉ niệm về sự khởi đầu, về những người bạn đầu tiên, và về tình yêu thương vô bờ bến của mẹ. Nó giúp tôi hiểu rằng trưởng thành là một hành trình thú vị, dù có chút lo âu ban đầu.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 3.
– Em xác định được một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: Liệt kê (lu nước, bờ ao, vườn ổi), điệp từ (thăm).
– Em phân tích được tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:
+ Liệt kê: Khắc họa chi tiết, sinh động những sự vật mà người bà quan tâm.
+ Điệp từ: Góp phần làm tăng thêm tính nhạc cho bài thơ, thể hiện sự quan tâm, săn sóc của người bà dành cho những sự vật trong ngôi nhà.
Câu 4.
– Cảm nhận, suy nghĩ về hai dòng thơ. Người bà dù đã ra đi mãi mãi, dù đang ở nơi xa nhưng bà vẫn sẽ luôn có cách ở bên cháu. Điều này cho thấy tình yêu, sự quan tâm mà bà dành cho cháu cũng như tình yêu, lòng biết ơn mà cháu dành người bà thân yêu của mình.
Câu 5.
– Em rút ra được bài học cho bản thân.
+ Biết yêu thương, quan tâm bà hơn.
+ Cần dành nhiều thời gian bên bà hơn.
Câu 6.
– Em bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình về nội dung của bài thơ, sau đây là một số gợi ý:
+ Bài thơ là sự chiêm nghiệm của người cháu về người bà dấu yêu:
++ Người cháu có một giấc mơ đẹp về bà: Trong giấc mơ bà hiện lên với những hành động gắn với những sự vật nhỏ bé, thân thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vì có bà gian bếp mới lại trở nên ấm áp, lại nồng khói bay.
++ Bên cạnh việc thăm nom những sự vật thân thuộc, bà còn dặn dò cháu một cách rất dịu dàng và đầy yêu thương: ngoại về nắm lấy bàn tay/ dặn tôi ở thế giới này phải ngoan…
++ Dù bà đã đi xa nhưng bà vẫn sẽ luôn ở cạnh bên cháu: “từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con.”
=> Bài thơ thể hiện nỗi nhớ và tình yêu mà người cháu dành cho bà. Trong giấc mơ, nỗi nhớ của cháu, người bà hiện lên một cách dịu dàng và đầy yêu thương dành cho cháu.
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm