Sân Sài Thiêm
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Bài làm
Bài thơ "Khán 'Thiên gia thi' hữu cảm" của Hồ Chí Minh không chỉ là một lời cảm nhận về tập thơ cổ mà còn là một tuyên ngôn nghệ thuật đầy bản lĩnh. Với cấu trúc đối lập chặt chẽ, hai câu đầu vẽ nên bức tranh thiên nhiên mỹ lệ qua nghệ thuật liệt kê "sơn, thủy, yên, hoa...". Đó là vẻ đẹp chuẩn mực của thi ca truyền thống vốn lấy thiên nhiên làm đối tượng trung tâm. Tuy nhiên, điểm nhấn đặc sắc nằm ở sự chuyển đổi tư duy trong hai câu cuối. Hình ảnh "thép" (thiết) và tinh thần "xung phong" đã mang đến một hơi thở mới cho thi ca. "Thép" ở đây chính là chất cộng sản, là ý chí thép và tính chiến đấu mà người cầm bút cần có trong thời đại bão táp. Người nghệ sĩ giờ đây không chỉ biết yêu cái đẹp của "tuyết, nguyệt" mà còn phải biết dấn thân vào cuộc trường chinh của dân tộc. Bằng ngôn ngữ hàm súc và thể thơ Đường luật uyên bác, Bác đã khẳng định: thơ ca cách mạng phải là vũ khí sắc bén, và thi sĩ phải là người chiến sĩ quả cảm trên mặt trận văn hóa tư tưởng.
Câu 2.
Bài làm
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một tư tưởng luôn được đề cao trong lịch sử xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam, được thể hiện qua nhiều hình thức, một trong số đó là việc tổ chức các lễ hội. Lễ hội là một trong những nét văn hóa của dân tộc ta, nó không chỉ là nơi để vui chơi giải trí mà nó còn là để cho nhân dân ta thể hiện mong ước hay nhớ ơn tổ tiên ông bà ta. Mỗi một quê hương có những lễ hội riêng, tiêu biểu có thể kể đến lễ hội cầu ngư – lễ hội cá ông.
Có thể nói nhắc đến cái tên lễ hội ấy thì chúng ta hẳn cũng biết là lễ hội của những ai. Nói đến cá thì chỉ có nói đến nhân dân vùng ven biển sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Chính đặc trưng ngành nghề ấy đã quyết định đến tín ngưỡng của họ. Những người sống ven biển miền trung thường có tục thờ ngư ông. Chính vì thế cho nên hàng năm họ thường tổ chức vào các năm giống như những hội ở miền Bắc. Họ quan niệm rằng là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên.
Ở mỗi địa phương thì thời gian diễn ra lễ hội truyền thống lại diễn ra khác nhau. Ở Vũng Tàu thì được tổ chức vào 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì lại được tổ chức vào 14 – 17/18 âm lịch hàng năm. Nói chung dù diễn vào thời gian nào thì tất cả những lễ hội ấy đều nói lên được nét đặc trưng văn hóa của nhân dân ven biển. Đồng thời nó thể hiện khát vọng bình yên, cầu mong cuộc sống ấm no hạnh phúc thịnh vượng của họ. Lễ hội Ngư Ông còn là nơi cho mọi người tưởng nhớ đến việc báo nghĩa, đền ơn, uống nước nhớ nguồn.
Tiếp đến chúng ta đi vào phân tích phần lễ hội ngư ông. Trước hết là phần lễ thì bao gồm có hai phần:
Thứ nhất là lễ rước kiệu, lễ rước đó là của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Khi ấy những ngư dân sống trên biển và bà con sẽ bày lễ vật ra nghênh đón với những khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thủy tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Không khí đầy những mùi hương của hương án và bày trước mắt mọi người là những loại lễ. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thủy tướng. Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng. Có thể thấy lễ rước ông không những có sự trang nghiêm của khói hương nghi ngút mà còn có sự đầy đủ của lễ vật và âm nhạc rộn rã của múa lân.
Thứ hai là phần lễ tế. Nó diễn ra sau nghi thức cúng tế cổ truyền. Đó là các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thủy tướng.
Tiếp đến là phần hội thì trước thời điểm lễ hội, hàng trăm những chiếc thuyền của ngư dân được trang trí cờ hoa đẹp mắt neo đậu ở bến. Phần hội gồm các nghi thức rước Ông ra biển với hàng trăm ghe tàu lớn nhỏ cùng các lễ cúng trang trọng. Đó là không khí chung cho tất cả mọi nhà trên thành phố đó thế nhưng niềm vui ấy không chỉ có ở thành phố mà nó còn được thể hiện ở mọi nhà. Ở tại nhà suốt ngày lễ hội, các ngư dân mời nhau ăn uống, kể cả khách từ nơi xa đến cũng cùng nhau ăn uống, vui chơi, trò chuyện thân tình.
Như vậy qua đây ta thấy hiểu thêm về những lễ hội của đất nước, ngoài những lễ hội nổi tiếng ở miền Bắc thì giờ đây ta cũng bắt gặp một lễ hội cũng vui và ý nghĩa không kém là ngư ông. Có thể nói qua lễ hội ta thêm hiểu hơn những mong muốn tốt lành của những người ngư dân nơi vùng biển đầy sóng gió. Đặc biệt nó cũng trở thành một lễ hội truyền thống của những người dân nơi biển xa.
Câu 1
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2
Luật của bài thơ là Luật bằng
Câu 3
Biện pháp tu từ liệt kê ("Sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong").
Tác dụng: Gợi ra một không gian thiên nhiên tráng lệ, mỹ lệ với đầy đủ những thi liệu cổ điển thường thấy trong thơ cũ.
• Tạo nhịp điệu dồn dập, nhấn mạnh sự phong phú của vẻ đẹp tạo hóa mà các thi gia đời trước say mê.
• Làm nền để tạo sự đối lập mạnh mẽ với hai câu thơ cuối, từ đó làm nổi bật sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật của tác giả.
Câu 4
Theo em Về lịch sử
-Bài thơ viết trong bối cảnh đất nước đang lầm than, cuộc kháng chiến cứu nước đang ở giai đoạn quyết liệt. Thơ ca không thể chỉ là nơi hưởng lạc, ngâm hoa vịnh nguyệt.
• Quan niệm nghệ thuật:
-"Thiết" (Thép): Biểu tượng cho tinh thần chiến đấu, chất thép cách mạng, ý chí kiên cường.
• "Xung phong": Người nghệ sĩ không được đứng ngoài cuộc mà phải là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
Tóm lại :Thơ ca hiện đại phải có tính chiến đấu, phải phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nghệ thuật phải gắn liền với đời sống và cuộc đấu tranh của nhân dân.
Câu 5
•Cấu tứ bài thơ được xây dựng trên sự vận động và đối lập giữa truyền thống và hiện đại:
• Hai câu đầu là cái nhìn về quá khứ (thơ cũ): mang tính chất tĩnh, thưởng ngoạn, lãng mạn với những thi liệu quen thuộc.
• Hai câu sau là cái nhìn về hiện tại (thơ mới/thơ cách mạng): mang tính chất động, quyết liệt, đầy sức mạnh.
• Sự chuyển biến này cho thấy một tư duy nghệ thuật nhất quán của Hồ Chí Minh: Sự kết hợp hài hòa giữa chất "Thép" (chiến sĩ) và chất "Tình" (thi sĩ).
Câu 1:Sơn Tinh, Thủy Tinh là hai nhân vật để lại trong em nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Trước hết, Sơn Tinh là một người thật lòng yêu thương Mị Nương. Chàng đã dùng hết tài nghệ và tâm trí để kiếm đủ voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín mao làm sính lễ hỏi cưới công chúa về làm vợ. Chỉ những ai có tình yêu chân thật thì mới bỏ ra nhiều công sức như vậy! Tiếp đến, Sơn Tinh là một vị thần tài phép và trí tuệ. Khi Thủy Tinh dâng nước đánh mình, chàng đã không hề lo sợ, nao núng mà dùng phép bốc từng quả núi dựng thành bức tường thành kiên cố, ngăn dòng nước dữ làm hại đến hoa màu, thôn xóm. Nhân vật Thủy Tinh cũng có những năng lực phi thường nhưng vì tính tình nóng nảy cho nên mới luôn tìm cách trả thù, gây ra lũ lụt hàng năm, làm thiệt hại đến nhân dân. Hình ảnh Sơn Tinh chống lại và chiến thắng Thủy Tinh từ lâu đã là một biểu tượng cho hình ảnh chống lũ lụt của nhân dân ta. Dù lũ lụt có ghê gớm nhưng nhân dân ta vẫn kiên cường, bất khuất chống lại, và việc đẩy lùi thiên tai kia chỉ là vấn đề thời gian. Chính bằng sức mạnh và trí tuệ, con người đã dần chế ngự được cơn thịnh nộ của thiên nhiên, mang lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Câu 2:Hi sinh là sẵn sàng cho đi một phần lợi ích của bản thân vì người khác. Sự hi sinh cao nhất là hi sinh sự sống vì sự nghiệp bảo vệ, giữ gìn độc lập, tự do của tổ quốc. Người biết hi sinh vì người khác là người luôn sống vị tha, biết yêu thương người khác, sẵn sàng cho đi những lợi ích của mình giúp người khác vượt qua khó khăn, thử thách. người có đức hi sinh luôn được người khác kính trọng và yêu mến. Ngược lại, người không biết hi sinh vì người khác luôn ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình, không bao giờ cảm thông hay chia sẻ với nỗi khổ đau của người khác, sống cuộc đời hèn kém. Đức hi sinh là phẩm chất cao quý của con người. Ai cũng cần có đức hi sinh bởi khi chúng ta biết hi sinh cho nhau, chia sẻ những gì mình có vì lợi ích chung của cộng đồng thì xã hội sẽ không ngừng phát triển, tình người gắn kết bền chặt hơn. Tuy nhiên, chỉ nên hi sinh cho những gì xứng đáng, cao quý và thiêng liêng chứ không phải là hi sinh một cách mù quáng. Hi sinh là cần thiết nhưng đừng để sự hi sinh của mình bị lợi dụng để làm lợi cho một cá nhân nào đó.
Câu 1: Truyện cổ tích Câu 2: ngôi thứ nhất Câu 3:Truyện “Sự tích những ngày đẹp trời” là một sáng tạo thú vị dựa trên truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh” quen thuộc. Nếu truyền thuyết xưa chỉ dừng lại ở cuộc chiến giữa hai vị thần tranh giành Mị Nương, thì truyện ngụ ngôn hiện đại này đã tiếp tục mở rộng cốt truyện theo hướng giàu trí tưởng tượng, gắn liền với cuộc sống thường ngày và tâm trạng con người. Các nhân vật được nhân hoá một cách sinh động: ông Trời, bà Mây, chị Gió, Thần Mưa, Thần Sấm không chỉ mang vẻ oai nghiêm mà còn gần gũi, mang nhiều nét tính cách đời thường. Chính sự nhân hoá này đã tạo nên sự mới mẻ, hài hước mà vẫn sâu sắc, giúp truyền tải thông điệp một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Câu 4: chi tiết hoang đường là "trái tim tôi đã cháy lên, ngùn ngụt" Câu 5: em ấn tượng với chi tiết:"Thuồng luồng, Ba ba, cá Ngựa. Chúng tôi xin nguyện hiến mình cho tôi, cam hóa thân thành voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao"