Quân Thị Đan Lê

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Quân Thị Đan Lê
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2,0 điểm)

Nhân vật Luân trong đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ. Từ khi còn rất nhỏ, Luân đã sớm giác ngộ cách mạng, thấu hiểu nỗi đau của gia đình và quê hương dưới ách thống trị của kẻ thù. Mười tuổi, em đã tham gia làm liên lạc, đêm đêm băng rào ấp chiến lược đưa tin cho cán bộ; mười lăm tuổi cầm súng chiến đấu trong hàng ngũ du kích. Những năm tháng trụ bám chiến trường với “ngày nằm công sự, đêm đi làm công tác” đã khiến Luân già trước tuổi, nhưng đó là sự trưởng thành được tôi luyện trong gian khổ và hi sinh. Ở Luân không chỉ có lòng dũng cảm, ý chí kiên cường mà còn toát lên vẻ đẹp nhân văn sâu sắc, thể hiện qua tình đồng chí, qua đôi mắt còn “thoáng nét thơ ngây”. Qua hình tượng Luân, tác giả ca ngợi phẩm chất cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam: sống vì lí tưởng, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng để bảo vệ quê hương, đất nước.


Câu 2. (4,0 điểm)

Lòng yêu nước là truyền thống quý báu được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn, tình yêu ấy lại mang những biểu hiện khác nhau. Ở thời đại hôm nay, khi đất nước không còn tiếng bom đạn, lòng yêu nước của người trẻ vẫn là giá trị cốt lõi, nhưng được thể hiện bằng những cách thức mới mẻ, thiết thực hơn.

Trước hết, lòng yêu nước của người trẻ hiện nay thể hiện ở ý thức học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tri thức chính là sức mạnh. Nhiều bạn trẻ đã không ngừng học hỏi, sáng tạo trong khoa học, công nghệ, khởi nghiệp, mang trí tuệ Việt vươn ra thế giới. Việc nỗ lực học tập tốt, làm việc nghiêm túc, đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội chính là một biểu hiện rõ ràng của tình yêu nước trong thời bình.

Bên cạnh đó, người trẻ ngày nay còn thể hiện lòng yêu nước qua tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Đó là sự xung phong trong các hoạt động tình nguyện, giúp đỡ đồng bào vùng khó khăn, tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường. Những hành động tuy nhỏ bé nhưng mang ý nghĩa lớn, góp phần lan tỏa tinh thần nhân ái và gắn kết xã hội.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy một bộ phận người trẻ có biểu hiện lệch lạc trong nhận thức về lòng yêu nước. Có người thờ ơ với các vấn đề chung của đất nước, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân; có người lại thể hiện tình yêu nước một cách cực đoan, cảm tính, thiếu hiểu biết, dễ bị kích động trên mạng xã hội. Những biểu hiện ấy không chỉ làm sai lệch giá trị của lòng yêu nước mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh người trẻ.

Vì vậy, lòng yêu nước của người trẻ hôm nay cần được xây dựng trên nhận thức đúng đắn và hành động cụ thể. Yêu nước không phải là những lời nói to tát, mà bắt đầu từ việc sống có lí tưởng, tuân thủ pháp luật, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng tri thức và trách nhiệm công dân.

Tóm lại, trong thời đại mới, lòng yêu nước của người trẻ không còn được đo bằng sự hi sinh xương máu nơi chiến trường, mà được thể hiện qua ý chí vươn lên, tinh thần cống hiến và trách nhiệm với Tổ quốc. Khi mỗi người trẻ biết sống tử tế, sống có ích và không ngừng hoàn thiện bản thân, đó chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối và làm rạng rỡ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.

Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản thuộc thể loại nhật kí (văn xuôi phi hư cấu).


Câu 2. (0,5 điểm)
Người viết sử dụng ngôi kể thứ nhất, xưng “mình”, “chị”, trực tiếp bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc cá nhân.


Câu 3. (1,0 điểm)
Ngôn ngữ trong văn bản mang đậm tính thân mật, thể hiện ở:

  • Cách xưng hô gần gũi: “mình”, “chị”, “em”, tạo cảm giác trò chuyện, tâm tình.
  • Giọng điệu tự nhiên, chân thành, giàu cảm xúc, giống lời nói hằng ngày hơn là văn viết trang trọng.
  • Nhiều câu mang sắc thái bộc bạch, chia sẻ nội tâm, thể hiện tình thương yêu, cảm phục dành cho Luân.
    → Nhờ đó, văn bản trở nên gần gũi, xúc động và giúp người đọc cảm nhận rõ tình cảm chân thành của người viết.

Câu 4. (1,0 điểm)

  • Chi tiết thể hiện tính xác thực:
    • Thời gian cụ thể: 11.7.68.
    • Nhân vật có thật: Luân – học sinh lớp bổ túc y tá.
    • Sự việc cụ thể: băng rào ấp chiến lược đưa tin, cầm súng tham gia du kích, trụ bám ở Phổ Vinh, ngày công sự – đêm công tác.
  • Tác dụng:
    • Làm cho câu chuyện trở nên chân thực, đáng tin cậy.
    • Khắc họa sinh động hình ảnh người thanh niên miền Nam anh hùng trong chiến tranh.
    • Tăng sức thuyết phục và giá trị tư liệu của văn bản nhật kí.

Câu 5. (1,0 điểm)
Từ văn bản, em rút ra bài học về lí tưởng sống và trách nhiệm của tuổi trẻ. Dù còn rất trẻ, Luân đã sớm ý thức được nỗi đau của quê hương, dũng cảm dấn thân vì đất nước. Điều đó nhắc nhở mỗi người trẻ hôm nay cần biết trân trọng cuộc sống hòa bình, sống có mục tiêu, có trách nhiệm với cộng đồng và không ngừng nuôi dưỡng niềm tin, hi vọng vào những giá trị tốt đẹp.

Câu 1. (2,0 điểm)

Nhân vật phu nhân trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp người phụ nữ trong xã hội trung đại, mang đậm lí tưởng đạo đức Nho giáo. Trước hết, phu nhân là người đoan trang, tài đức vẹn toàn: dung mạo thanh nhã, cử chỉ đoan trang, giỏi nữ công gia chánh lại am hiểu văn thơ. Trong đời sống vợ chồng, bà giữ trọn đạo nghĩa phu thê, kính trọng, yêu thương chồng, hết lòng khuyên can chồng làm tròn trách nhiệm với triều đình. Khi Đinh Hoàn mất nơi đất khách vì việc nước, phu nhân bộc lộ nỗi đau thương tột cùng, thể hiện tình cảm thủy chung, son sắt qua bài văn tế và ý nguyện hi sinh theo chồng. Hành động tự vẫn của bà, dù mang màu sắc bi kịch, vẫn được nhìn nhận như biểu hiện cao nhất của đức trinh liệt theo quan niệm thời đại. Qua nhân vật phu nhân, tác giả vừa ca ngợi vẻ đẹp đạo đức truyền thống của người phụ nữ, vừa gián tiếp phản ánh những giới hạn nghiệt ngã mà lễ giáo phong kiến đặt lên số phận họ.


Câu 2. (4,0 điểm)

Trong lịch sử dân tộc, hình ảnh người trí thức luôn gắn liền với vận mệnh đất nước. Qua hình tượng Đinh Hoàn – một kẻ sĩ tận tụy, hết lòng vì việc nước trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp, ta có thể suy ngẫm sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước ở mọi thời đại.

Trước hết, người trí thức là người có tri thức, đạo đức và ý thức trách nhiệm xã hội. Đinh Hoàn không chỉ là một tiến sĩ trẻ tài hoa mà còn là một vị quan cần mẫn, luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. Dù sức yếu, đường đi gian nan, ông vẫn nhận mệnh đi sứ để giữ gìn bang giao, coi đó là nghĩa vụ không thể chối từ. Điều ấy cho thấy trách nhiệm đầu tiên của người trí thức là dùng tài năng và hiểu biết của mình để phụng sự đất nước, không trốn tránh trước khó khăn, thử thách.

Bên cạnh đó, người trí thức chân chính phải có lòng yêu nước và tinh thần dấn thân. Đinh Hoàn ra đi trong nỗi lưu luyến gia đình, nhưng vẫn chấp nhận hi sinh hạnh phúc riêng vì đại nghĩa. Ngay cả khi cận kề cái chết, điều ông day dứt nhất vẫn là “việc nước chưa lo trọn vẹn”. Tinh thần ấy nhắc nhở rằng trí thức không thể sống thờ ơ, đứng ngoài thời cuộc, mà cần gắn vận mệnh cá nhân với vận mệnh dân tộc.

Trong xã hội hiện đại, trách nhiệm của người trí thức tuy có những biểu hiện khác, nhưng bản chất vẫn không thay đổi. Người trí thức hôm nay cần không ngừng học tập, sáng tạo, góp phần phát triển khoa học, kinh tế, văn hóa, giáo dục; đồng thời phải dám lên tiếng bảo vệ lẽ phải, chống lại cái xấu, cái sai. Tri thức nếu chỉ để mưu cầu danh lợi cá nhân mà không hướng đến lợi ích cộng đồng thì sẽ trở nên vô nghĩa.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những người có học vấn cao nhưng thiếu trách nhiệm xã hội, sống thực dụng, thờ ơ trước những vấn đề chung của đất nước. Điều đó càng làm nổi bật giá trị của những trí thức như Đinh Hoàn – những con người coi sự cống hiến là lẽ sống.

Tóm lại, từ hình tượng Đinh Hoàn, có thể khẳng định rằng trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước là dùng trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh của mình để phụng sự cộng đồng, dân tộc. Dù ở bất cứ thời đại nào, người trí thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi biết sống vì đất nước, vì con người và vì những giá trị tốt đẹp lâu bền.

Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì (văn xuôi tự sự trung đại, có yếu tố kì ảo).


Câu 2. (0,5 điểm)
Văn bản viết về đề tài ca ngợi người phụ nữ trinh liệt, thủy chung son sắt, hi sinh vì nghĩa vợ chồng và đạo đức phong kiến.


Câu 3. (0,5 điểm)

  • Yếu tố kì ảo: hồn Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân; việc ông “về chầu Thiên Đình”, “trông coi việc bút nghiên”; sự linh ứng của ngôi đền thờ sau khi phu nhân mất.
  • Tác dụng:
    • Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, giàu màu sắc huyền bí – đặc trưng của truyện truyền kì.
    • Thể hiện niềm tin của con người trung đại vào thế giới siêu nhiên.
    • Tôn vinh đức hạnh, lòng thủy chung của người phụ nữ, khiến sự hi sinh của phu nhân mang ý nghĩa thiêng liêng, cao cả.

Câu 4. (0,5 điểm)

  • Văn bản sử dụng nhiều điển tích, điển cố như: Lục Châu, người trinh nữ (Vọng phu), Thuấn phi, Ngưu Lang – Chức Nữ, Vi Ngọc Tiên, Dương Thái Chân…
  • Tác dụng:
    • Tăng tính trang trọng, bác học cho văn bản.
    • Đặt nhân vật phu nhân trong sự so sánh với những tấm gương trinh liệt, chung tình nổi tiếng, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp đạo đức của nhân vật.
  • Điển tích gây ấn tượng: Ngưu Lang – Chức Nữ, vì gợi khát vọng đoàn tụ của lứa đôi dù bị chia cắt bởi sinh – tử, rất phù hợp với tâm trạng nhớ thương chồng của phu nhân.

Câu 5. (0,5 điểm)

  • Không gian nghệ thuật kết hợp giữa:
    • Cõi trần: buồng khuê, lễ tiểu tường, đời sống sinh hoạt của phu nhân.
    • Cõi âm / cõi tiên: Thiên Đình, linh hồn Đinh Hoàn hiện về, sự linh ứng của đền thờ.
  • Tác dụng:
    • Làm mờ ranh giới giữa thực và ảo, tạo không khí huyền bí đặc trưng của truyện truyền kì.
    • Khắc sâu bi kịch chia lìa và khát vọng đoàn tụ của nhân vật.
    • Góp phần tôn vinh sự thủy chung, trinh liệt của người phụ nữ, đồng thời gửi gắm quan niệm đạo đức và niềm tin tâm linh của xã hội trung đại.

Câu 1. (2 điểm)

Đoạn trích trong Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc và đoạn trích trong Nhật kí Đặng Thùy Trâm đều phản ánh sâu sắc nội dung về tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh, nhưng mỗi văn bản có những sắc thái riêng. Điểm tương đồng nổi bật là cả hai đều thể hiện nỗi đau trước mất mát, tội ác chiến tranhkhát vọng hi sinh vì Tổ quốc. Nguyễn Văn Thạc day dứt, ám ảnh bởi những hình ảnh tang thương của bom đạn, từ đó hình thành khát vọng được trực tiếp cầm súng, góp phần vào cuộc chiến đấu chung. Trong khi đó, Đặng Thùy Trâm tập trung nhiều hơn vào ý thức đánh đổi của tuổi trẻ, nỗi buồn khi tuổi xuân và hạnh phúc riêng bị chiến tranh cướp mất, nhưng vẫn chấp nhận hi sinh để hướng tới lí tưởng Độc lập – Tự do. Nếu Nguyễn Văn Thạc thiên về cảm xúc đau xót, thôi thúc, trăn trở, thì Đặng Thùy Trâm lại nổi bật ở sự chín chắn, tự ý thức và bản lĩnh của người đã trực tiếp sống trong chiến trường. Hai đoạn trích, vì thế, đã bổ sung cho nhau, cùng làm sáng lên vẻ đẹp cao cả của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng khốc liệt của lịch sử.


Câu 2. (4 điểm)

Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người trẻ rơi vào trạng thái an phận, bằng lòng với sự ổn định, an nhàn mà quên đi việc phát triển bản thân – hiện tượng thường được gọi là “Hội chứng Ếch luộc”. Trước thực tế đó, mỗi người trẻ cần tự đặt ra lựa chọn cho mình: sống an nhàn, ổn định hay dám thay đổi môi trường sống để phát triển bản thân. Theo tôi, người trẻ cần luôn sẵn sàng thay đổi, bứt phá khỏi vùng an toàn, thay vì chìm đắm trong sự ổn định dễ dãi.

Trước hết, sự ổn định quá sớm rất dễ khiến con người trì trệ và đánh mất khát vọng. Khi quen với nhịp sống an nhàn, con người thường ngại va chạm, ngại thử thách và dần hài lòng với những gì mình đang có, dù chưa thật sự tốt. Giống như con ếch trong nồi nước ấm, nếu không nhận ra sự thay đổi, nó sẽ bị luộc chín lúc nào không hay. Người trẻ cũng vậy: nếu không học hỏi, không rèn luyện, không bước ra khỏi giới hạn của bản thân, họ sẽ tụt lại phía sau trong một xã hội luôn vận động.

Bên cạnh đó, thay đổi môi trường sống và làm việc là cơ hội quý giá để người trẻ trưởng thành. Mỗi thử thách mới buộc ta phải thích nghi, phải nỗ lực, từ đó khám phá năng lực tiềm ẩn của chính mình. Những va vấp, thất bại ban đầu không phải là mất mát, mà là hành trang giúp con người mạnh mẽ, bản lĩnh và tự tin hơn. Chỉ khi dám đi xa khỏi vùng an toàn, người trẻ mới có thể tích lũy tri thức, kinh nghiệm và giá trị sống bền vững.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng sẵn sàng thay đổi không đồng nghĩa với sống vội vàng hay thiếu định hướng. Thay đổi phải đi kèm với mục tiêu rõ ràng, sự chuẩn bị nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm với bản thân. Ổn định vẫn có ý nghĩa nếu đó là nền tảng để phát triển lâu dài, chứ không phải cái cớ để né tránh khó khăn.

Là người trẻ hôm nay, sống trong hòa bình, chúng ta càng phải trân trọng cơ hội được học tập, trải nghiệm và cống hiến. Thay vì an phận trong sự an nhàn tạm bợ, mỗi người nên chủ động học hỏi, dám thay đổi và dám bước đi, để không rơi vào “hội chứng Ếch luộc”, mà trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình, đóng góp tích cực cho xã hội và đất nước.

Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại nhật kí (văn xuôi phi hư cấu mang tính tự sự – trữ tình).


Câu 2.
Những dấu hiệu của tính phi hư cấu trong văn bản:

  • Ghi chép thời gian cụ thể: 15.11.1971.
  • Nhân vật trữ tình là “ta” – người viết nhật kí, xưng “ta” trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc.
  • Đề cập sự kiện, con người, không gian có thật trong chiến tranh: bom Mỹ, làng xóm bị tàn phá, miền Nam, Huế, Sài Gòn, đường Trường Sơn…
  • Cảm xúc, suy nghĩ mang tính chứng kiến và trải nghiệm cá nhân, không hư cấu cốt truyện.

Câu 3.
Câu văn sử dụng điệp ngữ “không quên”.
→ Tác dụng:

  • Nhấn mạnh nỗi ám ảnh, đau xót khôn nguôi trước tội ác chiến tranh.
  • Thể hiện ký ức không thể phai mờ của người viết về cảnh em bé miền Nam và máu đổ.
  • Góp phần bộc lộ lòng căm thù giặc sâu sắc và tình thương yêu con người tha thiết.

Câu 4.
Văn bản kết hợp linh hoạt nhiều phương thức biểu đạt:

  • Tự sự: kể lại những sự việc, cảnh tượng chiến tranh.
  • Miêu tả: tái hiện hình ảnh hố bom, làng xóm tang tóc, quan tài, em bé miền Nam…
  • Biểu cảm: bộc lộ trực tiếp cảm xúc đau đớn, day dứt, căm phẫn, khát vọng cống hiến.
  • Nghị luận (yếu tố suy ngẫm): suy nghĩ về trách nhiệm cá nhân với đất nước.

→ Hiệu quả: làm cho văn bản chân thực, xúc động, giàu sức truyền cảm, thể hiện rõ tâm hồn nhạy cảm và lí tưởng cao đẹp của người lính – trí thức trẻ.


Câu 5.
Sau khi đọc đoạn trích, em cảm thấy xúc động, đau xót và khâm phục. Đau xót trước những mất mát, hi sinh của nhân dân trong chiến tranh; khâm phục trước lí tưởng sống cao đẹp, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của người viết khi còn rất trẻ.

Chi tiết để lại ấn tượng đặc biệt là hình ảnh “em bé miền Nam đập tay lên vũng máu”. Bởi đây là hình ảnh cực kì ám ảnh, gợi nỗi đau chiến tranh tàn nhẫn giáng xuống cả những sinh linh vô tội, đồng thời làm nổi bật tình yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc trong tâm hồn người lính trẻ.

Câu 1 (2 điểm – khoảng 200 chữ)

Phân tích, đánh giá tính thuyết phục của văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng”

Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” có tính thuyết phục cao nhờ hệ thống luận điểm rõ ràng, luận cứ cụ thể và giọng văn phân tích sâu sắc. Trước hết, người viết nêu ra luận đề mạch lạc: truyện ngắn toát lên ba vẻ đẹp – vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện và vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên với con người. Các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lý, vừa phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Diểu, vừa lí giải quá trình thức tỉnh lương tri của ông, tạo nên sức thuyết phục về mặt logic. Bên cạnh đó, những dẫn chứng được trích từ tác phẩm như tiếng “kêu buồn thảm” của khỉ, hành động ông Diểu cứu và phóng sinh khỉ đực… góp phần làm sáng rõ nhận định. Giọng văn chân thành, giàu cảm xúc giúp người đọc cảm nhận được sự trân trọng của tác giả đối với thiên nhiên và con người. Nhờ kết hợp mạch lạc giữa lí lẽ – dẫn chứng – cảm xúc, văn bản không chỉ giúp người đọc hiểu sâu hơn về cái đẹp trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp mà còn khơi dậy ý thức yêu thiên nhiên, hướng thiện nơi mỗi người.


Câu 2 (4 điểm – khoảng 600 chữ)

Bài văn nghị luận về những clip giới trẻ thu gom rác ở ao hồ, chân cầu, bãi biển…

Trong những năm gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện rất nhiều đoạn clip ghi lại hành động thu gom rác thải ở ao hồ, chân cầu hay bãi biển của các bạn trẻ trên khắp cả nước. Những hình ảnh giản dị ấy nhanh chóng lan tỏa và tạo ảnh hưởng lớn trong cộng đồng. Ở góc nhìn của người trẻ, đó không chỉ là hoạt động làm sạch môi trường đơn thuần mà còn là biểu hiện của trách nhiệm, sự tử tế và lối sống văn minh của thế hệ hôm nay.

Trước hết, việc những người trẻ chủ động dọn rác phản ánh nhận thức ngày càng cao về môi trường sống. Ô nhiễm rác thải, đặc biệt là rác nhựa, đang trở thành vấn đề nhức nhối ở nhiều đô thị và vùng biển. Thay vì thờ ơ hay đổ lỗi, các bạn trẻ đã lựa chọn hành động – tự tay thu gom rác, phân loại và kêu gọi mọi người cùng chung tay. Điều đó cho thấy thế hệ trẻ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân trước mắt mà còn nghĩ đến chất lượng sống lâu dài của cộng đồng.

Không chỉ dừng lại ở ý thức môi trường, hành động dọn rác còn truyền đi thông điệp mạnh mẽ về lối sống tích cực. Mỗi túi rác được nhặt lên là một thông điệp rằng ai cũng có thể góp phần thay đổi xã hội, dù chỉ bằng những việc nhỏ bé. Những clip dọn rác không phô trương mà chân thực, từ đó khơi dậy cảm hứng hành động ở người xem: nếu một bạn học sinh, một nhóm bạn trẻ có thể làm, thì bất cứ ai cũng có thể bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như không xả rác, tái sử dụng đồ vật, giữ sạch không gian chung.

Hơn nữa, các hoạt động này còn góp phần phá bỏ định kiến rằng giới trẻ sống vô cảm, chỉ mải mê với mạng xã hội. Ngược lại, chính mạng xã hội đang trở thành phương tiện để gen Z lan tỏa điều tốt đẹp. Chọn làm sạch môi trường rồi chia sẻ lại quá trình ấy là cách các bạn dùng sức ảnh hưởng của mình để gieo thói quen tốt cho cộng đồng. Đây là minh chứng rằng khi người trẻ biết sử dụng mạng xã hội đúng cách, nó có thể trở thành công cụ giáo dục và truyền cảm hứng mạnh mẽ.

Tuy vậy, để hoạt động dọn rác trở nên bền vững, không chỉ người trẻ mà toàn xã hội phải thay đổi. Dọn rác là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là không xả rác. Nhà trường, gia đình và các cơ quan chức năng cần phối hợp giáo dục ý thức môi trường, xây dựng hệ thống xử lý rác hợp lý và tạo điều kiện để các hoạt động xanh được lan rộng.

Tóm lại, những clip dọn rác không chỉ làm sạch bãi biển hay ao hồ mà còn “làm sạch” nhận thức, làm đẹp thêm đời sống xã hội. Ở góc nhìn của người trẻ, đó là biểu hiện rõ ràng nhất cho trách nhiệm cộng đồng, cho tinh thần sống đẹp và cho niềm tin rằng mỗi hành động nhỏ đều có thể tạo nên thay đổi lớn. Thế hệ trẻ hôm nay đang âm thầm làm những điều tử tế – và chính họ đang góp phần xây dựng một tương lai xanh và văn minh hơn.

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.

Luận đề:
Văn bản bàn về cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, gồm: vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên qua sự chuyển biến trong tâm hồn ông Diểu.


Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.

Một câu văn có tính khẳng định rõ ràng là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”


Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.

Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” trực tiếp định hướng nội dung văn bản: toàn bộ bài viết triển khai phân tích những biểu hiện của cái đẹp trong tác phẩm, đi sâu vào ba phương diện: cái đẹp của thiên nhiên, cái đẹp của sự hướng thiện và cái đẹp hài hòa giữa con người – thiên nhiên.
→ Nhan đề bao quát, khái quát trọn vẹn nội dung nghị luận và giúp người đọc định hình chủ đề ngay từ đầu.


Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê trong câu văn.

Biện pháp liệt kê:

  • “chim xanh, gà rừng, khỉ”,
  • “sự hùng vĩ của núi non, hang động”,
  • “sự tĩnh lặng của rừng xanh”,
  • “sự quấn quít của ba con khỉ”
    đối lập với
  • “tiếng súng săn dữ dội”,
  • “tiếng kêu buồn thảm…”,
  • “tiếng rú kinh hoàng…”

Tác dụng:

  • Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và đầy sức sống của thiên nhiên.
  • Tạo sự đối lập mạnh giữa vẻ đẹp của rừng với hành động tàn nhẫn của ông Diểu.
  • Tăng sức gợi cảm, làm nổi bật sự thức tỉnh lương tri nơi nhân vật.
  • Góp phần khắc sâu thông điệp: thiên nhiên giàu giá trị, con người phải biết trân trọng và bảo vệ.

Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết.

Mục đích:

  • Giúp người đọc nhận ra những nét đẹp nổi bật trong truyện ngắn Muối của rừng.
  • Khẳng định giá trị nhân văn của tác phẩm và ý nghĩa của sự thức tỉnh trước thiên nhiên.

Quan điểm của người viết:

  • Đề cao vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên và vai trò của thiên nhiên trong việc đánh thức lương tâm con người.
  • Khẳng định tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp giàu tính nhân văn, hướng con người đến sự thiện lương.
  • Cho rằng sự thay đổi nhận thức của ông Diểu là minh chứng cho khả năng cảm hóa mạnh mẽ của thiên nhiên.

Tình cảm của người viết:

  • Bày tỏ sự trân trọng trước vẻ đẹp của thiên nhiên và nhân tính trong tác phẩm.
  • Thể hiện tình yêu đối với văn học, với những giá trị tốt đẹp mà tác phẩm mang lại.
  • Bộc lộ thái độ cảm thông, bênh vực và nâng niu vẻ đẹp hướng thiện trong tâm hồn con người.

Câu 1 (2 điểm – khoảng 200 chữ)

Viết đoạn văn phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là tiếng khóc thương thấm đẫm tinh thần nhân đạo dành cho những kiếp người bất hạnh trong xã hội xưa. Nhà thơ đã khắc họa nhiều số phận đau khổ: kẻ bị bắt đi lính, người chết trận; kẻ lỡ làng tuổi xuân phải buôn phấn bán hương; kẻ hành khất sống nay đây mai đó… Dù ở tầng lớp nào, họ đều chung cảnh nghèo đói, cô độc, và cái chết đầy tủi nhục. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ nỗi xót xa sâu sắc, đồng thời lên án những bất công, áp bức đã đẩy con người vào đường cùng. Về nghệ thuật, đoạn trích đặc sắc ở giọng điệu bi thương mà chân thành; từ ngữ giàu sức gợi, đặc biệt là hệ thống từ láy như “lập lòe”, “văng vẳng” tạo nên không gian âm giới mờ ảo, u buồn. Kết cấu liệt kê các loại chúng sinh khiến bức tranh xã hội thêm toàn diện, đồng thời tôn bật tấm lòng nhân ái của tác giả. Với ngòi bút hiện thực và tinh thần nhân đạo sâu sắc, Nguyễn Du đã để lại một áng văn thấm đượm tình người, tiêu biểu cho giá trị nhân văn của văn học dân tộc.


Câu 2 (4 điểm – khoảng 600 chữ)

Bài văn nghị luận về định kiến tiêu cực đối với gen Z.

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội khiến những nhận xét về từng thế hệ người trẻ xuất hiện ngày càng nhiều, trong đó gen Z thường bị gắn mác bằng những định kiến tiêu cực như “lười biếng”, “sống ảo”, “thiếu kiên nhẫn” hay “dễ bỏ cuộc”. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ của chính người trẻ, những quy chụp ấy phần nhiều phiến diện và thiếu công bằng, bởi chúng không phản ánh đầy đủ sự nỗ lực và vai trò của gen Z trong xã hội hiện đại.

Trước hết, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một bộ phận gen Z có những hạn chế nhất định: dễ bị tác động bởi mạng xã hội, thích thể hiện bản thân, đôi khi sống nhanh, sống vội. Nhưng sẽ rất sai lầm nếu từ một bộ phận nhỏ mà đánh đồng cả một thế hệ. Gen Z lớn lên trong bối cảnh công nghệ bùng nổ, khối lượng thông tin khổng lồ, cạnh tranh nghề nghiệp gay gắt, và nhiều biến động toàn cầu. Vì thế, cách làm việc, suy nghĩ hay lựa chọn lối sống của họ mang những dấu ấn đặc trưng riêng, không thể áp dụng tiêu chuẩn cũ để phán xét.

Điều đáng nói hơn là gen Z là thế hệ có tinh thần học hỏi mạnh mẽ, khả năng thích ứng cao và ý thức rõ ràng về giá trị cá nhân. Họ sẵn sàng đổi mới, tìm kiếm cơ hội phát triển, không chấp nhận “sống mòn”. Nhiều người trẻ dấn thân kinh doanh, khởi nghiệp, chấp nhận thử thách trong môi trường nghề nghiệp mới. Họ cũng là lực lượng tích cực lan tỏa những giá trị nhân văn như bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, tôn trọng sự khác biệt. Việc gen Z đề cao sức khỏe tinh thần, cân bằng cuộc sống không phải là “yếu đuối”, mà là một bước tiến trong nhận thức hiện đại.

Bởi vậy, thay vì gắn mác tiêu cực, xã hội cần có cái nhìn toàn diện hơn về gen Z. Mỗi thế hệ đều có điểm mạnh, điểm yếu; điều quan trọng là sự thấu hiểu và đồng hành giữa các thế hệ để cùng phát triển. Người trẻ cần tiếp tục hoàn thiện bản thân, giữ thái độ nghiêm túc với công việc và trách nhiệm xã hội. Ngược lại, người lớn cần lắng nghe, tạo điều kiện để gen Z phát huy năng lực và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng.

Tóm lại, định kiến về gen Z phản ánh sự khác biệt trong cách sống và cách nghĩ giữa các thế hệ, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận nỗ lực, sự sáng tạo và khát vọng cống hiến của người trẻ. Gen Z xứng đáng được nhìn nhận bằng sự công bằng và trân trọng – bởi chính họ đang góp phần tạo nên diện mạo mới cho xã hội hiện đại.

Câu 1.

Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:

  • Tự sự (kể về các số phận con người).
  • Miêu tả (khắc họa cảnh sống, cảnh chết).
  • Biểu cảm (bày tỏ niềm thương xót, lòng nhân đạo).
  • Thuyết minh (giới thiệu một số dạng đời, kiếp người).

Câu 2.

Các kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:

  1. Người mắc vào khóa lính, vào chốn chiến trận.
  2. Người lỡ làng một kiếp, buôn nguyệt bán hoa.
  3. Người hành khất, đi ăn mày ngược xuôi.

Câu 3.

Hiệu quả của từ láy trong hai dòng thơ:

  • Lập lòe gợi ánh sáng yếu ớt, chập chờn → tạo cảm giác rùng rợn, lạnh lẽo của cảnh hồn ma vất vưởng.
  • Văng vẳng gợi âm thanh mơ hồ, xa xăm → làm tăng vẻ ám ảnh, u buồn, nhói thương cho những nỗi oan khuất.
    → Hai từ láy góp phần khắc họa không gian âm giới huyền ảo, bi thương, đồng thời nhấn mạnh sự xót xa của tác giả đối với linh hồn những kiếp người bất hạnh.

Câu 4.

Chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích:

  • Chủ đề: Khắc họa những kiếp người bất hạnh trong xã hội xưa: lính tráng chết trận, kỹ nữ, kẻ hành khất… qua đó tố cáo hiện thực đau khổ và bất công.
  • Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc – lòng thương cảm vô bờ đối với những con người khổ đau, bị bỏ quên, không nơi nương tựa.

Câu 5. (Viết 5–7 dòng)

Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, ta càng nhận rõ truyền thống nhân đạo lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đó là tình thương yêu con người, đặc biệt là những số phận bất hạnh trong xã hội. Ông cha ta luôn trân trọng sự sống, coi trọng nghĩa tình, biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và sẵn sàng dang tay giúp đỡ. Truyền thống ấy thể hiện trong ca dao, tục ngữ và cả đời sống hằng ngày: “lá lành đùm lá rách”. Trong xã hội hiện đại, mỗi người càng cần giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu ấy bằng lối sống nhân ái, sẻ chia và trách nhiệm với cộng đồng.