Trịnh Vũ Hải Yến
Giới thiệu về bản thân
Trung Quốc có khí hậu đa dạng và phân hóa phức tạp do lãnh thổ rộng lớn. Miền Đông mang tính chất gió mùa ẩm, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô; miền Tây sâu trong nội địa nên khô hạn, nhiều hoang mạc. Từ Bắc xuống Nam, khí hậu chuyển dần từ ôn đới đến cận nhiệt và nhiệt đới. Khí hậu này tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp phong phú, trồng được nhiều loại cây như lúa gạo, lúa mì, chè, bông; đồng thời thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp ở miền Đông. Tuy nhiên, thiên tai như bão, lũ và hạn hán cũng gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống.
Sông ngòi Trung Quốc khá phát triển, tập trung chủ yếu ở miền Đông. Hai con sông lớn nhất là Trường Giang và Hoàng Hà. Các sông có nguồn nước dồi dào, chế độ nước thay đổi theo mùa, mùa hạ thường có nước lớn do mưa nhiều. Hệ thống sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, phát triển giao thông đường thủy và xây dựng các nhà máy thủy điện lớn. Tuy nhiên, vào mùa mưa, nhiều con sông thường gây lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và hoạt động kinh tế. Vì vậy, khí hậu và sông ngòi vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là yếu tố gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Trung Quốc có khí hậu đa dạng và phân hóa phức tạp do lãnh thổ rộng lớn. Miền Đông mang tính chất gió mùa ẩm, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô; miền Tây sâu trong nội địa nên khô hạn, nhiều hoang mạc. Từ Bắc xuống Nam, khí hậu chuyển dần từ ôn đới đến cận nhiệt và nhiệt đới. Khí hậu này tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp phong phú, trồng được nhiều loại cây như lúa gạo, lúa mì, chè, bông; đồng thời thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp ở miền Đông. Tuy nhiên, thiên tai như bão, lũ và hạn hán cũng gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống.
Sông ngòi Trung Quốc khá phát triển, tập trung chủ yếu ở miền Đông. Hai con sông lớn nhất là Trường Giang và Hoàng Hà. Các sông có nguồn nước dồi dào, chế độ nước thay đổi theo mùa, mùa hạ thường có nước lớn do mưa nhiều. Hệ thống sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, phát triển giao thông đường thủy và xây dựng các nhà máy thủy điện lớn. Tuy nhiên, vào mùa mưa, nhiều con sông thường gây lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và hoạt động kinh tế. Vì vậy, khí hậu và sông ngòi vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là yếu tố gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Trung Quốc có khí hậu đa dạng và phân hóa phức tạp do lãnh thổ rộng lớn. Miền Đông mang tính chất gió mùa ẩm, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô; miền Tây sâu trong nội địa nên khô hạn, nhiều hoang mạc. Từ Bắc xuống Nam, khí hậu chuyển dần từ ôn đới đến cận nhiệt và nhiệt đới. Khí hậu này tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp phong phú, trồng được nhiều loại cây như lúa gạo, lúa mì, chè, bông; đồng thời thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp ở miền Đông. Tuy nhiên, thiên tai như bão, lũ và hạn hán cũng gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống.
Sông ngòi Trung Quốc khá phát triển, tập trung chủ yếu ở miền Đông. Hai con sông lớn nhất là Trường Giang và Hoàng Hà. Các sông có nguồn nước dồi dào, chế độ nước thay đổi theo mùa, mùa hạ thường có nước lớn do mưa nhiều. Hệ thống sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, phát triển giao thông đường thủy và xây dựng các nhà máy thủy điện lớn. Tuy nhiên, vào mùa mưa, nhiều con sông thường gây lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và hoạt động kinh tế. Vì vậy, khí hậu và sông ngòi vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là yếu tố gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Trung Quốc có khí hậu đa dạng và phân hóa phức tạp do lãnh thổ rộng lớn. Miền Đông mang tính chất gió mùa ẩm, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô; miền Tây sâu trong nội địa nên khô hạn, nhiều hoang mạc. Từ Bắc xuống Nam, khí hậu chuyển dần từ ôn đới đến cận nhiệt và nhiệt đới. Khí hậu này tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp phong phú, trồng được nhiều loại cây như lúa gạo, lúa mì, chè, bông; đồng thời thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp ở miền Đông. Tuy nhiên, thiên tai như bão, lũ và hạn hán cũng gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống.
Sông ngòi Trung Quốc khá phát triển, tập trung chủ yếu ở miền Đông. Hai con sông lớn nhất là Trường Giang và Hoàng Hà. Các sông có nguồn nước dồi dào, chế độ nước thay đổi theo mùa, mùa hạ thường có nước lớn do mưa nhiều. Hệ thống sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, phát triển giao thông đường thủy và xây dựng các nhà máy thủy điện lớn. Tuy nhiên, vào mùa mưa, nhiều con sông thường gây lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và hoạt động kinh tế. Vì vậy, khí hậu và sông ngòi vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là yếu tố gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Trung Quốc có khí hậu đa dạng và phân hóa phức tạp do lãnh thổ rộng lớn. Miền Đông mang tính chất gió mùa ẩm, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô; miền Tây sâu trong nội địa nên khô hạn, nhiều hoang mạc. Từ Bắc xuống Nam, khí hậu chuyển dần từ ôn đới đến cận nhiệt và nhiệt đới. Khí hậu này tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp phong phú, trồng được nhiều loại cây như lúa gạo, lúa mì, chè, bông; đồng thời thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp ở miền Đông. Tuy nhiên, thiên tai như bão, lũ và hạn hán cũng gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống.
Sông ngòi Trung Quốc khá phát triển, tập trung chủ yếu ở miền Đông. Hai con sông lớn nhất là Trường Giang và Hoàng Hà. Các sông có nguồn nước dồi dào, chế độ nước thay đổi theo mùa, mùa hạ thường có nước lớn do mưa nhiều. Hệ thống sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, phát triển giao thông đường thủy và xây dựng các nhà máy thủy điện lớn. Tuy nhiên, vào mùa mưa, nhiều con sông thường gây lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống dân cư và hoạt động kinh tế. Vì vậy, khí hậu và sông ngòi vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là yếu tố gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Với bảng số liệu về quy mô GDP của Nam Phi qua các năm, biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ cột đơn vì thể hiện sự thay đổi giá trị tuyệt đối theo thời gian.
Cách vẽ:
- Trục ngang: các năm (2000, 2005, 2010, 2015, 2020)
- Trục dọc: GDP (tỉ USD)
- Chiều cao các cột lần lượt:
- 2000: 151,7
- 2005: 288,9
- 2010: 417,4
- 2015: 346,7
- 2020: 338,0
Biểu đồ minh họa đơn giản:
b. Nhận xét quy mô GDP của Nam Phi qua các năm
- Trong giai đoạn 2000 – 2010, GDP của Nam Phi tăng nhanh, từ 151,7 tỉ USD lên 417,4 tỉ USD, tăng 265,7 tỉ USD.
- Giai đoạn 2010 – 2020, GDP giảm dần, từ 417,4 tỉ USD xuống còn 338,0 tỉ USD, giảm 79,4 tỉ USD.
- GDP cao nhất vào năm 2010 với 417,4 tỉ USD.
- GDP thấp nhất vào năm 2000 với 151,7 tỉ USD.
- Nhìn chung, quy mô GDP của Nam Phi có xu hướng tăng nhưng không ổn định, tăng mạnh đến năm 2010 rồi giảm nhẹ trong giai đoạn sau.
Với bảng số liệu về quy mô GDP của Nam Phi qua các năm, biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ cột đơn vì thể hiện sự thay đổi giá trị tuyệt đối theo thời gian.
Cách vẽ:
- Trục ngang: các năm (2000, 2005, 2010, 2015, 2020)
- Trục dọc: GDP (tỉ USD)
- Chiều cao các cột lần lượt:
- 2000: 151,7
- 2005: 288,9
- 2010: 417,4
- 2015: 346,7
- 2020: 338,0
Biểu đồ minh họa đơn giản:
b. Nhận xét quy mô GDP của Nam Phi qua các năm
- Trong giai đoạn 2000 – 2010, GDP của Nam Phi tăng nhanh, từ 151,7 tỉ USD lên 417,4 tỉ USD, tăng 265,7 tỉ USD.
- Giai đoạn 2010 – 2020, GDP giảm dần, từ 417,4 tỉ USD xuống còn 338,0 tỉ USD, giảm 79,4 tỉ USD.
- GDP cao nhất vào năm 2010 với 417,4 tỉ USD.
- GDP thấp nhất vào năm 2000 với 151,7 tỉ USD.
- Nhìn chung, quy mô GDP của Nam Phi có xu hướng tăng nhưng không ổn định, tăng mạnh đến năm 2010 rồi giảm nhẹ trong giai đoạn sau.
Với bảng số liệu về quy mô GDP của Nam Phi qua các năm, biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ cột đơn vì thể hiện sự thay đổi giá trị tuyệt đối theo thời gian.
Cách vẽ:
- Trục ngang: các năm (2000, 2005, 2010, 2015, 2020)
- Trục dọc: GDP (tỉ USD)
- Chiều cao các cột lần lượt:
- 2000: 151,7
- 2005: 288,9
- 2010: 417,4
- 2015: 346,7
- 2020: 338,0
Biểu đồ minh họa đơn giản:
b. Nhận xét quy mô GDP của Nam Phi qua các năm
- Trong giai đoạn 2000 – 2010, GDP của Nam Phi tăng nhanh, từ 151,7 tỉ USD lên 417,4 tỉ USD, tăng 265,7 tỉ USD.
- Giai đoạn 2010 – 2020, GDP giảm dần, từ 417,4 tỉ USD xuống còn 338,0 tỉ USD, giảm 79,4 tỉ USD.
- GDP cao nhất vào năm 2010 với 417,4 tỉ USD.
- GDP thấp nhất vào năm 2000 với 151,7 tỉ USD.
- Nhìn chung, quy mô GDP của Nam Phi có xu hướng tăng nhưng không ổn định, tăng mạnh đến năm 2010 rồi giảm nhẹ trong giai đoạn sau.
Với bảng số liệu về quy mô GDP của Nam Phi qua các năm, biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ cột đơn vì thể hiện sự thay đổi giá trị tuyệt đối theo thời gian.
Cách vẽ:
- Trục ngang: các năm (2000, 2005, 2010, 2015, 2020)
- Trục dọc: GDP (tỉ USD)
- Chiều cao các cột lần lượt:
- 2000: 151,7
- 2005: 288,9
- 2010: 417,4
- 2015: 346,7
- 2020: 338,0
Biểu đồ minh họa đơn giản:
b. Nhận xét quy mô GDP của Nam Phi qua các năm
- Trong giai đoạn 2000 – 2010, GDP của Nam Phi tăng nhanh, từ 151,7 tỉ USD lên 417,4 tỉ USD, tăng 265,7 tỉ USD.
- Giai đoạn 2010 – 2020, GDP giảm dần, từ 417,4 tỉ USD xuống còn 338,0 tỉ USD, giảm 79,4 tỉ USD.
- GDP cao nhất vào năm 2010 với 417,4 tỉ USD.
- GDP thấp nhất vào năm 2000 với 151,7 tỉ USD.
- Nhìn chung, quy mô GDP của Nam Phi có xu hướng tăng nhưng không ổn định, tăng mạnh đến năm 2010 rồi giảm nhẹ trong giai đoạn sau.