Hà Bảo Thy
Giới thiệu về bản thân
Câu1 :
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, lối sống chủ động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Chủ động là tự giác trong học tập, công việc, biết nắm bắt cơ hội và không chờ đợi hay phụ thuộc vào người khác. Người sống chủ động luôn có kế hoạch rõ ràng, dám nghĩ dám làm và sẵn sàng đối mặt với khó khăn. Nhờ đó, họ dễ dàng đạt được mục tiêu và khẳng định giá trị bản thân. Ngược lại, nếu sống thụ động, con người sẽ dễ bỏ lỡ cơ hội, thiếu định hướng và khó thành công. Trong bối cảnh xã hội phát triển nhanh chóng, sự cạnh tranh ngày càng cao, lối sống chủ động càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Là học sinh, chúng ta cần chủ động trong học tập, rèn luyện kỹ năng, không ngừng cố gắng để hoàn thiện bản thân. Có như vậy, mỗi người mới có thể thích nghi với cuộc sống và vươn tới tương lai tốt đẹp hơn.
Câu2 :
Bài thơ của Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mùa hè sinh động, giàu sức sống, đồng thời thể hiện tâm hồn và lý tưởng cao đẹp của tác giả.
Trước hết, bức tranh thiên nhiên hiện lên rực rỡ, tràn đầy sức sống. Hình ảnh “hoè lục đùn đùn tán rợp trương” gợi tả màu xanh tươi tốt, tán cây xum xuê che mát cả không gian. “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” là sắc đỏ rực rỡ của hoa lựu như đang “phun” ra, tạo cảm giác mãnh liệt, căng tràn nhựa sống. Cùng với đó, “hồng liên trì đã tịn mùi hương” mang đến hương thơm dịu nhẹ của hoa sen, khiến bức tranh thêm phần thanh khiết.
Không chỉ có màu sắc, bức tranh còn có âm thanh sinh động: “lao xao chợ cá” gợi cuộc sống dân dã nơi làng quê, “dắng dỏi cầm ve” là âm thanh đặc trưng của mùa hè. Tất cả hòa quyện tạo nên một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người vừa bình dị vừa tràn đầy sức sống.
Qua đó, ta thấy được tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của Nguyễn Trãi. Dù sống ẩn dật, ông vẫn hướng lòng mình tới nhân dân. Hai câu cuối thể hiện ước nguyện cao đẹp: mong sao có cây đàn của vua Nghiêu Thuấn để đem lại cuộc sống “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Đây chính là lý tưởng vì dân, vì nước, thể hiện tấm lòng nhân ái và trách nhiệm của một bậc hiền tài.
Như vậy, bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên đặc sắc mà còn là tiếng lòng của một con người luôn lo cho dân, cho nước. Qua đó, càng làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách lớn lao của Nguyễn Trãi.
Câu1:
- Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu2 :
- Những hình ảnh thể hiện sinh hoạt đạm bạc, thanh cao:
+ “một mai, một cuốc, một cần câu”+ “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”
+ “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
+ “rượu đến cội cây ta sẽ uống”
Câu3 :
- Biện pháp tu từ: liệt kê (“một mai, một cuốc, một cần câu”).
- Tác dụng:Gợi ra những dụng cụ lao động quen thuộc, giản dị.Nhấn mạnh cuộc sống tự cung tự cấp, bình dị của tác giả.Thể hiện tâm thế ung dung, tự tại, không màng danh lợi.
Câu4 :
- Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt:
+“Ta dại”: thực chất là khôn chọn sống nơi vắng vẻ, tránh xa bon chen.“Người khôn”: thực chất là dại chạy theo danh lợi, chốn lao xao.
Câu5 :
- Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách cao quý. Ông sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên, giữ tâm hồn thanh thản, tự do. Không chạy theo danh lợi, ông lựa chọn cuộc sống ẩn dật để giữ gìn phẩm giá. Quan niệm sống của ông thể hiện sự tỉnh táo, sâu sắc trước thói đời bon chen. Qua đó, ta thấy một con người trí tuệ, thanh cao và giàu bản lĩnh.
Câu1:
Bài làm
Sau khi đọc bài thơ Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi, em cảm nhận rõ một giọng thơ giản dị mà sâu sắc, chứa đựng những bài học quý giá về cách sống. Những câu thơ như lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía về ảnh hưởng của môi trường và bạn bè đối với mỗi con người. Em đặc biệt ấn tượng với hình ảnh “đen gần mực, đỏ gần son” – một cách diễn đạt ngắn gọn mà giàu ý nghĩa, khiến em suy ngẫm về những mối quan hệ xung quanh mình. Bài thơ không chỉ mang tính triết lí mà còn gần gũi với đời sống, như một lời khuyên chân thành của người đi trước dành cho thế hệ sau. Đọc xong, em nhận ra rằng để trở thành người tốt, không chỉ cần nỗ lực của bản thân mà còn phải biết lựa chọn môi trường sống tích cực. Từ đó, em càng ý thức hơn trong việc kết bạn, học hỏi những điều hay và tránh xa những thói xấu. Bài thơ tuy ngắn nhưng để lại trong em dư âm sâu lắng và những bài học đáng trân trọng.
Câu2:
Bài làm
Trong kho tàng tục ngữ dân gian Việt Nam, câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” chứa đựng một triết lí sống sâu sắc về ảnh hưởng của môi trường đối với con người. Câu tục ngữ sử dụng hình ảnh “mực” và “đèn” để chỉ những yếu tố tiêu cực và tích cực xung quanh ta. Qua đó, ông cha ta muốn khẳng định rằng con người rất dễ bị tác động bởi môi trường sống và những mối quan hệ xung quanh.
Thực tế cuộc sống đã chứng minh điều đó. Một người nếu thường xuyên sống trong môi trường tiêu cực, tiếp xúc với những thói quen xấu như lười biếng, gian dối thì rất dễ bị ảnh hưởng và dần trở nên giống như vậy. Ngược lại, nếu được sống và học tập trong môi trường lành mạnh, bên cạnh những người chăm chỉ, tử tế, con người sẽ có động lực để hoàn thiện bản thân. Trong môi trường học đường, những học sinh chăm ngoan thường có xu hướng chơi với nhau, cùng nhau tiến bộ; còn những bạn sa vào tệ nạn thường chịu ảnh hưởng từ bạn bè xung quanh.
Tuy nhiên, câu tục ngữ không hoàn toàn mang tính tuyệt đối. Trong thực tế, vẫn có những con người biết giữ vững bản lĩnh, không bị môi trường xấu làm thay đổi. Điều đó cho thấy bên cạnh yếu tố môi trường, ý chí và nhận thức cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng. Vì vậy, mỗi người không chỉ cần lựa chọn môi trường tốt mà còn phải rèn luyện bản thân để không bị tác động tiêu cực.
Từ đó, có thể thấy câu tục ngữ vẫn giữ nguyên giá trị trong cuộc sống hiện đại. Nó nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết lựa chọn bạn bè, môi trường sống phù hợp, đồng thời không ngừng tu dưỡng đạo đức, bản lĩnh. Khi làm được điều đó, con người không chỉ tránh được những ảnh hưởng xấu mà còn có thể phát triển toàn diện, trở thành người có ích cho xã hội.
Câu 1:
- Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2:
- Một câu thành ngữ, tục ngữ được mượn ý:
+“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Câu3:
- Biện pháp tu từ trong câu cuối: so sánh (ẩn dụ) kết hợp với đối:
“Đen gần mực, đỏ gần son”.
- Tác dụng:Làm nổi bật ảnh hưởng của môi trường sống đến con người.Diễn đạt ý nghĩa một cách ngắn gọn, giàu hình ảnh, dễ nhớ.Tăng tính triết lí, sâu sắc cho lời khuyên về cách lựa chọn môi trường và bạn bè.
Câu4:
- Đề tài: Ảnh hưởng của môi trường sống, quan hệ xung quanh đến nhân cách con người.
- Chủ đề: Khuyên con người cần lựa chọn môi trường sống, bạn bè tốt để hoàn thiện bản thân, tránh xa những điều xấu.
Câu5:
- Bài học rút ra: cần biết lựa chọn bạn bè , môi trường sống lành mạnh. Tránh xa những thói quen xấu dễ ảnh hưởng đến bản thân. Luôn học hỏi,noi gương người tốt để phát triển bản thân.
Câu1:
- Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn
Câu2:
- Người kể chuyện là người kể chuyện toàn tri.
Câu3:
- Thành phần chêm xen:
“(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)”.
-Tác dụng:Bổ sung, giải thích rõ hơn cho ý nói về hình ảnh người mẹ trong các vở cải lương.Làm cho lời văn tự nhiên, gần gũi, mang màu sắc đời thường.Nhấn mạnh nhận thức của San: dù là kiểu người mẹ nào thì tất cả đều xuất phát từ tình thương con sâu sắc.
Câu4:
- Đoạn văn được trần thuật theo điểm nhìn gắn với nhân vật San.
- Tác dụng:Khắc họa nội tâm sâu sắc, nỗi buồn, sự tủi thân và khát khao đổi đời của San.Làm nổi bật hoàn cảnh bế tắc, đau khổ khiến San tìm đến giấc ngủ như một cách trốn tránh thực tại.Thể hiện rõ ước mơ làm đào hát vẫn âm ỉ cháy trong lòng dù cuộc đời xô đẩy.Tăng tính chân thực và giàu cảm xúc, giúp người đọc đồng cảm với số phận nhân vật.
Câu5:
- Văn bản để lại nhiều cảm xúc xót xa và suy ngẫm sâu sắc. Em cảm thấy thương San – một cô gái có tuổi thơ bất hạnh, thiếu thốn tình thương, phải bươn chải mưu sinh và lạc lối trong cuộc đời. Đồng thời, em cũng xúc động trước tình người ấm áp giữa những con người khốn khó như Sáu Tâm và Điệp – những nghệ sĩ sống nghèo nhưng giàu lòng nhân ái. Câu chuyện cho thấy dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu, con người vẫn khao khát yêu thương và được yêu thương. Từ đó, em nhận ra cần biết trân trọng những giá trị tình cảm, sống nhân hậu, cảm thông với những mảnh đời bất hạnh và không ngừng nuôi dưỡng ước mơ, dù nhỏ bé.
Câu1:
Bài làm
Truyện Bởi yêu thương của Nguyễn Ngọc Tư để lại ấn tượng sâu sắc bởi nội dung giàu giá trị nhân văn và thấm đẫm tình người. Trước hết, tác phẩm khắc họa những số phận nhỏ bé, bất hạnh như San – cô gái thiếu thốn tình mẫu tử, sống trong nghèo khó và lạc lối giữa cuộc đời. Qua đó, nhà văn thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước những kiếp người chìm nổi. Tuy nhiên, điều làm nên chiều sâu của truyện chính là ánh sáng của tình yêu thương le lói trong bóng tối cuộc đời. Tình cảm giữa Sáu Tâm, Điệp và San không chỉ là sự đồng cảm mà còn là sự hi sinh cao cả: Điệp sẵn sàng nhường lại người mình yêu cho San để cô có cơ hội làm lại cuộc đời. Bên cạnh đó, tác phẩm còn thể hiện khát vọng được yêu thương, được chở che của con người, đặc biệt là những người thiếu thốn tình cảm từ nhỏ. Qua câu chuyện, Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm thông điệp: dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu, tình yêu thương vẫn là sợi dây cứu rỗi, giúp con người tìm thấy ý nghĩa và ánh sáng cho cuộc đời mình.
Câu2:
Bài làm
Trong nhịp sống hiện đại hối hả, khi con người ngày càng bị cuốn vào guồng quay của công việc và những giá trị vật chất, tình yêu thương vẫn luôn là sợi dây bền chặt kết nối con người với con người. Đó không chỉ là cảm xúc mà còn là nền tảng làm nên một xã hội nhân văn và tốt đẹp. Tình yêu thương biểu hiện qua sự quan tâm, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống thường ngày. Một lời hỏi han chân thành, một hành động nhỏ giúp đỡ người khác hay sự đồng cảm với những mảnh đời bất hạnh cũng đủ làm ấm lòng con người giữa thế giới nhiều biến động.
Thực tế cho thấy, trong đại dịch Covid-19, tinh thần yêu thương, tương thân tương ái của người Việt đã được thể hiện rõ nét qua những chuyến xe hỗ trợ, những “ATM gạo”, hay các y bác sĩ không quản ngại hiểm nguy để cứu chữa bệnh nhân. Những hành động ấy không chỉ giúp con người vượt qua khó khăn mà còn lan tỏa niềm tin và hi vọng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn có những biểu hiện đáng lo ngại khi một bộ phận người trẻ sống thờ ơ, vô cảm, chỉ quan tâm đến bản thân mà quên đi những giá trị tinh thần.
Tình yêu thương trong cuộc sống hiện đại vì thế càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nó không chỉ giúp con người vượt qua nghịch cảnh mà còn nuôi dưỡng tâm hồn, tạo nên những mối quan hệ bền vững. Để làm được điều đó, mỗi người cần học cách sống chậm lại, lắng nghe và thấu hiểu người khác, biết cho đi mà không toan tính. Khi biết yêu thương, con người không chỉ làm đẹp cho cuộc đời của người khác mà còn làm giàu có chính tâm hồn mình.
Có thể nói, giữa một thế giới không ngừng thay đổi, tình yêu thương chính là giá trị vĩnh cửu. Khi còn yêu thương, con người vẫn còn giữ được phần nhân hậu nhất của mình, và đó cũng là điều làm nên ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Bài2:
- Các nhân tố kinh tế – xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển và phân bố nông nghiệp.
a. Dân cư và lao động
-Cung cấp lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp.-
Trình độ lao động quyết định năng suất và hiệu quả sản xuất.
- Nơi đông dân, lao động có kinh nghiệm,nông nghiệp phát triển hơn.
b. Thị trường
- Quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu.
- Thúc đẩy chuyên môn hóa nông nghiệp (trồng cây, nuôi con theo nhu cầu).
-Gần thị trường tiêu thụ lớn ,nông nghiệp phát triển mạnh.
c. Khoa học – công nghệ
- Giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Cho phép mở rộng sản xuất ở những nơi điều kiện tự nhiên khó khăn.
- Làm thay đổi cả cơ cấu và phân bố nông nghiệp.
d. Cơ sở vật chất – kĩ thuật
- Bao gồm: thủy lợi, giao thông, máy móc, bảo quản, chế biến…
- Tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ, mở rộng sản xuất.
- Nơi có cơ sở hạ tầng tốt nông nghiệp phát triển và phân bố tập trung hơn.
e. Chính sách và vốn đầu tư
- Chính sách của Nhà nước định hướng phát triển các vùng, ngành nông nghiệp.
- Vốn giúp mở rộng quy mô, áp dụng công nghệ hiện đại.
- Là yếu tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Bài2:
- Các nhân tố kinh tế – xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển và phân bố nông nghiệp.
a. Dân cư và lao động
-Cung cấp lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp.
- Trình độ lao động quyết định năng suất và hiệu quả sản xuất.
- Nơi đông dân, lao động có kinh nghiệm , nông nghiệp phát triển hơn.
b. Thị trường
- Quyết định sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu.
- Thúc đẩy chuyên môn hóa nông nghiệp (trồng cây, nuôi con theo nhu cầu).
- Gần thị trường tiêu thụ lớn ,nông nghiệp phát triển mạnh.
c. Khoa học – công nghệ
- Giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Cho phép mở rộng sản xuất ở những nơi điều kiện tự nhiên khó khăn.
- Làm thay đổi cả cơ cấu và phân bố nông nghiệp.
d. Cơ sở vật chất – kĩ thuật
- Bao gồm: thủy lợi, giao thông, máy móc, bảo quản, chế biến…
- Tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ, mở rộng sản xuất.
- Nơi có cơ sở hạ tầng tốt ,nông nghiệp phát triển và phân bố tập trung hơn.
e. Chính sách và vốn đầu tư
- Chính sách của Nhà nước định hướng phát triển các vùng, ngành nông nghiệp.
- Vốn giúp mở rộng quy mô, áp dụng công nghệ hiện đại.
- Là yếu tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Câu1:
Bài làm
Trong văn bản "Chiếu cầu hiền tài",Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ,giàu sức thuyết phục.Trước hết,tác giả nêu luận điểm rõ ràng,muốn đất nước thịnh trị phải trọng dụng người tài.Luận điểm ấy được triển khai theo trình tự logic từ xưa đến nay,lấy dẫn chứng lịch sử các triều đại hưng thịnh như Hán,Đường để khẳng định vai trò của việc tiến cử người tài,từ đó liên hệ với thực trạng hiện tại khi đất nước vừa được gây dụng.Cách lập luận vừa mang tính kế thừa truyền thống,vừa gắn với hoàn cảnh thực tiễn,tạo nên sức thuyết phục tự nhiên.Bên cạnh đó,Nguyễn Trãi còn sử dụng lí lẽ sắc bén kết hợp với dẫn chứng cụ thể,tiêu biểu,được liệt kê ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa.Đặc biệt,giọng điêu khiêm nhường của người đứng đầu("trẫm...lo sợ như gần vực sâu")vừa thể hiện tấm lòng cầu hiền,vừa làm tăng tính thuyết phục.Nghệ thuật lập luận ấy không chỉ thể hiện trí tuệ sắc sảo mà còn cho thấy tầm nhìn chính trị sâu rộng của tác giả.
Câu2:
Bài làm
Trong thời đại toàn cầu hoá,khi tri thức trở thành nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia,hiện tượng"chảy máu chất xám"đang trở thành một vấn đề đáng suy ngẫm đối với Việt Nam.Đây là tình trạng những người có trình độ cao,tài năng rời bỏ đất nước để học tập,làm việc định cư lâu dài ở nước ngoài.Không chỉ là sự dịch chuyển đơn thuần,đó còn là sự thất thoát nguồn lực trí tuệ,yếu tố then chốt của sự phát triển bền vững.
Trước hết,cần hiểu rằng"chảy máu chất xám"không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực.Trong một thế giới mở,việc du học,làm việc ở nước ngoài là cơ hội để người trẻ tiếp cận tri thức hiện đại,nâng cao trình độ và mở rộng tầm nhìn.Nhiều người sau khi học tập ở nước ngoài đỡ trở về đóng góp cho quê hương.Tuy nhiên vấn đề trở nên đáng lo ngại khi ngày càng nhiều người tài lựa chọn ở lại nước ngoài lâu dài.Thực tế cho thấy không ít du học sinh sau khi tốt nghiệp tại các quốc gia phát triển như United States hay Japan đã quyết định làm việc và định cư tại đó thay vì trở về Việt Nam.
Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ nhiều phía.Trước hết là do môi trường làm việc trong nước còn hạn chế về cơ hội phát triển,chế độ đại ngộ chưa tương xứng với năng lực.Bên cạnh đó,cơ sở vật chất,điều kiện nghiên cứu khoa học ở Việt Nam vẫn còn thiếu thốn so với các nước phát triển.Ngoài ra,một số người trẻ có tâm lý sính ngoại,cho rằng môi trường bên ngoài tốt hơ,từ đó thiếu động lực quay về cống hiến.Những nguyên nhân này đã khiến dòng chảy chất xám ngày càng có xu hướng "chảy ra"thay vì"chảy về".
Hậu quả của hiện tượng này là không nhỏ. Khi mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao, đất nước sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển khoa học – công nghệ, giảm sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Đồng thời, việc đào tạo một nhân tài tốn rất nhiều thời gian và chi phí, nhưng nếu họ không quay về đóng góp thì đó là một sự lãng phí lớn. Tuy nhiên, ở góc độ khác, nếu có chính sách phù hợp, nguồn lực này vẫn có thể được “kết nối” để phục vụ đất nước từ xa.
Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có những giải pháp đồng bộ. Nhà nước cần cải thiện môi trường làm việc, tạo điều kiện phát triển cho người tài, có chính sách đãi ngộ xứng đáng. Đồng thời, cần đầu tư mạnh mẽ hơn cho giáo dục và khoa học – công nghệ. Về phía người trẻ, cần nâng cao ý thức trách nhiệm với quê hương, hiểu rằng thành công cá nhân sẽ ý nghĩa hơn khi gắn liền với sự phát triển của đất nước.
“Chảy máu chất xám” là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn lại và đổi mới. Khi biết trân trọng và tạo điều kiện cho nhân tài, đất nước sẽ không chỉ giữ được người giỏi mà còn thu hút thêm nhiều nguồn lực trí tuệ từ khắp nơi. Và khi ấy, dòng chảy tri thức sẽ không còn là sự mất mát, mà trở thành động lực mạnh mẽ đưa đất nước vươn xa.
Câu1:
- Phương thức biểu đạt chính của bài : nghị luận.
Câu2:
- Chủ thể bài viết là : Lê Lợi.
Câu3:
- Mục đích chính của văn bản trên là : kêu gọi,tìm kiến và trọng dụng hiền tài để xây dựng và phát triển đất nước.
- Đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản là:
+ Các quan lại từ tam phẩm trở lên phải tiến cử người có tài.
+ Thưởng xứng đáng cho người tiến cử đúng.
+ Cho phép người có tài tự tiến cử.
+ Không phân biệt xuất thân.
Câu4:
- Để chứng minh cho luận điểm người viết đã đưa ra những dẫn chứng :
+ Tiên Hà tiến cử Tào Tham.
+ Nguỵ Vô Tri tiến cử Trần Bình.
+ Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh.
+ Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu.
- Người viết đưa ra những dẫn chứng cụ thể,tiêu biểu,có tính lịch sử . Cách nêu dẫn chứng liệt kê ngắn gọn nhưng cụ thể . Tăng sức thuyết phục cho luận điểm.
Câu5:
- Qua văn bản , có thể thấy chủ thể là một vị vua . Yêu nước , lo cho vận mệnh quốc gia , luôn trăn trở tìm người tài giúp dân . Khiêm tốn , cầu thị , ý thức rõ vai trò của hiền tài . Công bằng , trọng dụng nhân tài , có tầm nhìn xa và tư tưởng tiến bộ.