Ma Ly Na

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ma Ly Na
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1. Vi sinh vật nhân sơ:

  • Chủ yếu sinh sản vô tính bằng phân đôi
    → Tế bào mẹ chia thành 2 tế bào con giống nhau về di truyền.
  • Ngoài ra có thể gặp:
    • Nảy chồi (hiếm)
    • Tạo bào tử (chủ yếu để tồn tại, không phải là hình thức sinh sản thực sự)
  • Không có sinh sản hữu tính đúng nghĩa, nhưng có trao đổi vật chất di truyền qua tiếp hợp, biến nạp, tải nạp (không làm tăng số lượng tế bào ngay).

2. Vi sinh vật nhân thực:

  • Sinh sản vô tính:
    • Phân đôi (ở động vật nguyên sinh)
    • Nảy chồi (nấm men)
    • Tạo bào tử vô tính (nấm mốc…)
  • Sinh sản hữu tính:
    • sự kết hợp giao tử hoặc nhân → tạo hợp tử
    • Có thể hình thành bào tử hữu tính
    • Làm tăng đa dạng di truyền

1. Vi sinh vật nhân sơ:

  • Chủ yếu sinh sản vô tính bằng phân đôi
    → Tế bào mẹ chia thành 2 tế bào con giống nhau về di truyền.
  • Ngoài ra có thể gặp:
    • Nảy chồi (hiếm)
    • Tạo bào tử (chủ yếu để tồn tại, không phải là hình thức sinh sản thực sự)
  • Không có sinh sản hữu tính đúng nghĩa, nhưng có trao đổi vật chất di truyền qua tiếp hợp, biến nạp, tải nạp (không làm tăng số lượng tế bào ngay).

2. Vi sinh vật nhân thực:

  • Sinh sản vô tính:
    • Phân đôi (ở động vật nguyên sinh)
    • Nảy chồi (nấm men)
    • Tạo bào tử vô tính (nấm mốc…)
  • Sinh sản hữu tính:
    • sự kết hợp giao tử hoặc nhân → tạo hợp tử
    • Có thể hình thành bào tử hữu tính
    • Làm tăng đa dạng di truyền

1. Vi sinh vật nhân sơ:

  • Chủ yếu sinh sản vô tính bằng phân đôi
    → Tế bào mẹ chia thành 2 tế bào con giống nhau về di truyền.
  • Ngoài ra có thể gặp:
    • Nảy chồi (hiếm)
    • Tạo bào tử (chủ yếu để tồn tại, không phải là hình thức sinh sản thực sự)
  • Không có sinh sản hữu tính đúng nghĩa, nhưng có trao đổi vật chất di truyền qua tiếp hợp, biến nạp, tải nạp (không làm tăng số lượng tế bào ngay).

2. Vi sinh vật nhân thực:

  • Sinh sản vô tính:
    • Phân đôi (ở động vật nguyên sinh)
    • Nảy chồi (nấm men)
    • Tạo bào tử vô tính (nấm mốc…)
  • Sinh sản hữu tính:
    • sự kết hợp giao tử hoặc nhân → tạo hợp tử
    • Có thể hình thành bào tử hữu tính
    • Làm tăng đa dạng di truyền

Vì đậu nành là cây họ Đậu, có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) ở rễ. Những vi khuẩn này có enzyme nitrogenase giúp cố định nitơ (N₂) trong không khí thành dạng amoni (NH₄⁺) mà cây có thể sử dụng.

Cụ thể:Khi trồng khoai trước đó, đất đã bị giảm hàm lượng nitơ do cây hấp thụ.

Khi chuyển sang trồng đậu nành:

-Vi khuẩn nốt sần ở rễ đậu nành lấy N₂ từ không khí và biến thành dạng dinh dưỡng cho cây.

-Một phần nitơ này được giữ lại trong đất (qua rễ, xác cây, chất thải), làm đất giàu đạm hơn.

→ Vì vậy, việc luân canh trồng đậu nành sau khoai giúp bổ sung và duy trì lượng nitơ trong đất, làm đất màu mỡ hơn cho các vụ sau.

a.

- Môi trường nuôi cấy không liên tục (batch culture): là môi trường nuôi cấy mà trong suốt quá trình nuôi không bổ sung thêm chất dinh dưỡng và cũng không loại bỏ sản phẩm chuyển hóa. Vi khuẩn sinh trưởng trong một lượng môi trường cố định nên điều kiện sẽ thay đổi dần theo thời gian (cạn dinh dưỡng, tích lũy chất độc).

- Môi trường nuôi cấy liên tục (continuous culture): là môi trường nuôi cấy mà liên tục được bổ sung chất dinh dưỡng mới và đồng thời lấy ra một lượng dịch nuôi cấy tương ứng (chứa vi khuẩn và sản phẩm). Nhờ vậy, điều kiện môi trường được giữ ổn định, quần thể vi khuẩn có thể sinh trưởng lâu dài ở trạng thái cân bằng.

b.

+Trong môi trường nuôi cấy không liên tục, quần thể vi khuẩn sinh trưởng theo 4 pha điển hình:

+Pha tiềm phát (pha lag)

-Vi khuẩn chưa phân chia ngay.

-Thích nghi với môi trường mới, tổng hợp enzyme và các chất cần thiết cho sinh trưởng.

+Pha lũy thừa (pha log/exponential)

-Vi khuẩn phân chia rất nhanh theo cấp số nhân.

-Số lượng tế bào tăng mạnh, thời gian thế hệ không đổi.

-Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất.

+Pha cân bằng (pha stationary)

-Số tế bào sinh ra ≈ số tế bào chết.

-Nguyên nhân: thiếu dinh dưỡng, tích lũy chất độc, pH thay đổi.

-Tổng số vi khuẩn gần như không đổi.

+Pha suy vong (pha death)

-Số tế bào chết nhiều hơn số tế bào sinh ra.

-Quần thể giảm dần do điều kiện môi trường trở nên bất lợi.

bài 2 : Các nhân tố kinh tế – xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, thậm chí quyết định đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp. Điều này thể hiện qua các khía cạnh sau:

1. Ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp

a. Dân cư và lao động

+ Cung cấp lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp.

+ Trình độ lao động (kinh nghiệm, kỹ thuật) quyết định:

+ Năng suất cây trồng, vật nuôi

+ Khả năng áp dụng tiến bộ khoa học

- Nơi có lao động dồi dào, trình độ cao → nông nghiệp phát triển mạnh, hiện đại hơn.

b. Khoa học – công nghệ

Ứng dụng giống mới, cơ giới hóa, tự động hóa giúp:

+ Tăng năng suất và sản lượng

+ Giảm phụ thuộc vào tự nhiên

+ Làm xuất hiện các hình thức sản xuất tiên tiến:

+ Nông nghiệp công nghệ cao

+ Nông nghiệp hữu cơ

- Đây là nhân tố then chốt thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo chiều sâu.

c. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật

+ Hệ thống giao thông → thuận lợi vận chuyển nông sản

+ Thủy lợi → đảm bảo nước tưới, chống hạn, chống lũ

+ Điện, thông tin → phục vụ sản xuất và tiêu thụ

- Hạ tầng tốt giúp mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất.

d. Thị trường

Quyết định:

+ Loại cây trồng, vật nuôi

+ Quy mô và hướng sản xuất (hàng hóa hay tự cung tự cấp)

+ Nhu cầu thị trường lớn → thúc đẩy sản xuất chuyên môn hóa, thâm canh

- “Sản xuất cái gì, bao nhiêu” phụ thuộc mạnh vào thị trường.

e. Chính sách và thể chế

+ Chính sách đất đai, tín dụng, hỗ trợ nông nghiệp:

+ Khuyến khích hoặc hạn chế phát triển ngành

+ Định hướng chuyển dịch cơ cấu

- Là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy hoặc điều chỉnh sản xuất nông nghiệp.




bài 1 : * Các loại nguồn lực phát triển kinh tế

Bao gồm:

- nguồn lực tự nhiên

- nguồn lực kinh tế - xã hội

- nguồn lực vốn

- nguồn lực vị trí địa lí

* Phân tích tác động của nguồn lực vị trí địa lí đến phát triển kinh tế

+ Tác động tích cực

– Thuận lợi cho giao lưu kinh tế

Vị trí gần biển, gần các tuyến giao thông quốc tế giúp:

Phát triển thương mại, xuất nhập khẩu

Thu hút đầu tư nước ngoài

– Thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hóa

Các vùng có vị trí thuận lợi thường hình thành:

Khu công nghiệp

Trung tâm dịch vụ, logistics

– Tạo điều kiện khai thác các nguồn lực khác hiệu quả hơn

+ Tác động tiêu cực (nếu vị trí không thuận lợi)

- Xa trung tâm kinh tế → khó thu hút đầu tư

- Giao thông khó khăn → chi phí vận chuyển cao

- Dễ bị cô lập → hạn chế giao lưu kinh tế

- Một số vị trí nhạy cảm (biên giới, thiên tai…) có thể gây bất ổn phát triển

câu 1

bài làm

Trong cuộc sống hiện đại, lối sống chủ động giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Chủ động là tự giác, tích cực nắm bắt cơ hội, không chờ đợi hay phụ thuộc vào hoàn cảnh. Khi sống chủ động, con người có thể kiểm soát tốt thời gian, công việc và định hướng tương lai của mình. Điều đó giúp chúng ta nâng cao hiệu quả học tập, làm việc và dễ dàng thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Ngược lại, lối sống thụ động khiến con người trở nên trì trệ, bỏ lỡ cơ hội và khó đạt được thành công. Đặc biệt trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, nếu không chủ động học hỏi và đổi mới, chúng ta sẽ dễ bị tụt hậu. Tuy nhiên, chủ động không có nghĩa là vội vàng hay hấp tấp, mà cần đi kèm với sự suy nghĩ thấu đáo và trách nhiệm. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tinh thần chủ động trong học tập, công việc và cuộc sống để phát triển bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội.

câu 2

bài làm

Bài thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên ngày hè sống động, đồng thời thể hiện tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc của tác giả.

Mở đầu bài thơ là tâm thế ung dung, thư thái của nhà thơ: “Rồi hóng mát thuở ngày trường”. Từ “rồi” gợi cảm giác nhàn nhã, thảnh thơi. Trong không gian ấy, thiên nhiên hiện lên rực rỡ với sắc xanh của cây hòe “đùn đùn tán rợp trương”, sắc đỏ của hoa lựu “phun thức đỏ”, và hương thơm dịu nhẹ của sen “tịn mùi hương”. Những hình ảnh giàu sức gợi đã tạo nên một bức tranh mùa hè đầy sức sống, căng tràn màu sắc và hương vị.

Không chỉ có thiên nhiên, bức tranh còn có âm thanh của cuộc sống con người: “lao xao chợ cá”, “dắng dỏi cầm ve”. Các từ láy giàu giá trị biểu cảm đã làm nổi bật nhịp sống sôi động, bình dị của làng quê. Qua đó, ta thấy được sự gắn bó sâu sắc của Nguyễn Trãi với cuộc sống nhân dân.

Hai câu cuối thể hiện ước nguyện cao đẹp của nhà thơ. Ông mong có cây đàn của vua Nghiêu, vua Thuấn để gảy lên khúc nhạc thái bình, cầu cho “dân giàu đủ khắp đòi phương”. Đây chính là tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, luôn hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Như vậy, bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp mà còn là biểu hiện của một tâm hồn lớn, một nhân cách cao cả luôn vì dân, vì nước của Nguyễn Trãi.

câu 1 : Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

câu 2 : Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao của tác giả:

-“một mai, một cuốc, một cần câu”

-“thu ăn măng trúc, đông ăn giá”

-“xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

-“rượu đến cội cây ta sẽ uống”

→ Đó là cuộc sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên, không cầu kỳ vật chất.

câu 3 : Biện pháp tu từ liệt kê : “một mai, một cuốc, một cần câu”.

-Tác dụng: gợi ra đầy đủ những dụng cụ lao động quen thuộc của nông dân.

- nhấn mạnh cuộc sống giản dị , tự cung tự cấp.

- thể hiện tâm thế ung dung ,tự tại , hòa hợp với thiên nhiên của tác giả.

câu 4 :Quan niệm “dại – khôn” của tác giả rất đặc biệt, mang tính nghịch lí:

-“Ta dại” thực chất là lối sống tránh xa danh lợi, tìm sự thanh thản nơi vắng vẻ.

-“Người khôn” lại là những người chạy theo danh lợi, sống nơi “lao xao”.

→ Qua đó, tác giả thể hiện thái độ phê phán lối sống bon chen, danh lợi và đề cao lối sống thanh cao, an nhàn, giữ gìn nhân cách.

câu 5 : Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách thanh cao và trí tuệ sâu sắc. Ông lựa chọn cuộc sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên, tránh xa vòng danh lợi bon chen. Dù bị xem là “dại”, nhưng thực chất đó là sự tỉnh táo, sáng suốt trước những cám dỗ của cuộc đời. Ông coi phú quý chỉ như giấc chiêm bao, từ đó giữ được tâm hồn thanh thản, tự do. Nhân cách ấy thể hiện một con người coi trọng giá trị tinh thần, sống giản dị mà cao quý.

Câu 1 :

Sau khi đọc bài thơ của Nguyễn Trãi, em cảm thấy rất ấn tượng và suy nghĩ nhiều về cách sống của bản thân. Bài thơ tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng lời khuyên sâu sắc về việc lựa chọn môi trường sống và bạn bè. Qua những hình ảnh giản dị mà giàu ý nghĩa, tác giả nhắc nhở con người rằng sống gần điều tốt thì sẽ trở nên tốt, còn gần điều xấu thì dễ bị ảnh hưởng theo. Điều đó khiến em nhận ra rằng trong cuộc sống, không chỉ học kiến thức mà còn phải học cách sống đúng, biết tránh xa những thói quen xấu và luôn hướng đến những điều tốt đẹp. Bài thơ cũng giúp em hiểu rằng việc rèn luyện nhân cách là điều rất quan trọng, quyết định con người mình sau này sẽ trở thành như thế nào. Sau khi đọc xong, em tự nhắc mình phải biết chọn bạn tốt, chăm chỉ học tập, sống chân thành và luôn giữ cho bản thân những suy nghĩ tích cực để ngày càng hoàn thiện hơn.

Câu 2

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” là một lời khuyên sâu sắc về ảnh hưởng của môi trường sống đối với mỗi con người. Câu tục ngữ mượn hình ảnh quen thuộc trong đời sống để gửi gắm một bài học ý nghĩa: con người sẽ chịu tác động từ những gì mình tiếp xúc hằng ngày, vì vậy cần biết lựa chọn môi trường và bạn bè tốt để hoàn thiện bản thân.

Trước hết, “mực” tượng trưng cho những điều xấu, những thói quen không tốt, còn “đèn” tượng trưng cho ánh sáng, cho cái tốt, cái đúng. Khi ở gần mực thì dễ bị dây bẩn, cũng như khi ở trong môi trường xấu, con người rất dễ bị lôi kéo vào những thói hư tật xấu. Ngược lại, khi ở gần ánh đèn, ta được soi sáng, giống như khi sống trong môi trường lành mạnh, ta sẽ học được nhiều điều tốt đẹp. Trong thực tế, học sinh chơi với bạn chăm chỉ thì thường có ý thức học tập tốt hơn, còn nếu thường xuyên giao du với những người lười biếng, ham chơi thì dễ sa sút trong học tập và đạo đức. Điều đó cho thấy môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách.

Tuy nhiên, câu tục ngữ không có nghĩa là con người hoàn toàn bị phụ thuộc vào hoàn cảnh. Nếu có bản lĩnh và ý chí vững vàng, ta vẫn có thể giữ được phẩm chất tốt dù sống trong môi trường chưa thật sự tốt. Bên cạnh đó, mỗi người cũng cần cố gắng trở thành “ánh đèn” để lan tỏa điều tích cực đến những người xung quanh. Khi biết sống tốt, biết giúp đỡ người khác, ta không chỉ hoàn thiện bản thân mà còn góp phần làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn.

Tóm lại, câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” nhắc nhở chúng ta phải biết lựa chọn bạn bè, môi trường sống phù hợp và luôn rèn luyện bản thân để trở thành người có ích. Đây là bài học vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.