Hoàng Văn Giang
Giới thiệu về bản thân
b 107
C 204
a 1207
Trong văn bản “Ông già và cậu bé nạo ống khói”, nhân vật cậu bé nạo ống khói là hình ảnh tiêu biểu cho số phận cơ cực của trẻ em lao động nghèo ở nước Anh thời xưa, đồng thời toát lên vẻ đẹp của lòng nhân hậu và khát vọng sống trong sạch. Cậu bé mồ côi cha mẹ, phải đi làm thuê nạo ống khói từ khi còn nhỏ. Công việc nặng nhọc, nguy hiểm và bẩn thỉu ấy không phù hợp với một đứa trẻ, thế nhưng cậu vẫn nhẫn nhịn chịu đựng để kiếm sống. Qua lời kể và miêu tả, ta thấy cậu bé gầy gò, đen đúa, quần áo rách rưới – tất cả thể hiện cuộc đời cực khổ, thiếu thốn tình thương. Dù vậy, trong tâm hồn cậu vẫn sáng lên một nét đẹp đáng quý: sự trung thực, hiền lành và lòng tự trọng. Cậu không muốn làm điều xấu, không muốn bị coi thường chỉ vì nghề nghiệp thấp kém. Đặc biệt, khi gặp ông già, cậu bé vẫn giữ thái độ lễ phép và chân thành. Chính sự trong sáng ấy đã khiến ông già cảm thông và giúp đỡ cậu. Từ đó, người đọc cảm nhận được niềm tin rằng trong cuộc đời khổ cực vẫn luôn tồn tại lòng nhân ái và ánh sáng của tình người. Nhân vật cậu bé nạo ống khói vừa gợi xót thương, vừa khơi dậy trong mỗi người khát vọng về một xã hội công bằng hơn, nơi trẻ em được sống và học tập trong tình yêu thương. Qua hình ảnh ấy, tác giả gửi gắm thông điệp nhâ
Dưới đây là bài văn cảm nhận về nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng --- Trong nền văn học đương đại Việt Nam, Nguyễn Lãm Thắng là một gương mặt thơ có cá tính riêng nổi bật. Sinh năm 1973, ông là giảng viên Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Huế, và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tập thơ đầu tay của ông mang tên Điệp ngữ tình (2007) với những bài thơ mộc mạc, giản dị về tình yêu và sự sống. Tuy nhiên, càng về sau, thơ ông không còn giữ nét “êm ái” thông thường mà chuyển sang một phong cách mạnh mẽ hơn: ngôn từ đứt gãy, những khoảng trống, có khi khó hiểu nhưng chứa đựng cảm xúc sâu sắc về thân phận và cuộc sống. Điều khiến em ấn tượng nhất ở thơ Nguyễn Lãm Thắng là cái cách ông dám nhìn vào những góc khuất của cuộc sống: nỗi buồn, cái chết, ánh sáng lẫn bóng tối. Ông không chỉ viết về tình yêu, về thiên nhiên, mà còn phản ánh những tầng xã hội, những con người “bé mọn” trong đời sống. Khi đọc bài thơ như “Thánh Gióng” (một trong các bài làm bởi ông) ta thấy cách sử dụng ngôn từ linh hoạt: câu thơ ngắn, có phần giật gân, tạo cảm giác “đứt” và dừng. Phong cách đó làm em cảm nhận rằng ông không chỉ viết để kể – mà còn viết để “gợi” lại trong lòng người đọc cái gì đó khó nói: sự trống rỗng, sự mong đợi, sự đau đơn khi loài người lạc giữa đời. Đối với em – một học sinh lớp 7 – thơ của ông vừa có phần lạ mà cũng vừa có phần thân thuộc. Lạ vì cách dùng hình ảnh không giống thơ quen thuộc mình đọc ở trường: hình ảnh “câu thơ bung gai giữa ngày không nắng”, “đêm hoang mang hơn huyền thoại đen như ứ máu”… Thân thuộc vì trong đó em vẫn thấy nỗi lòng mình: khi buồn, khi cô đơn, khi tự hỏi về ý nghĩa của sự sống. Qua thơ Nguyễn Lãm Thắng, em học được rằng: viết không phải lúc nào cũng đẹp đẽ; đôi khi, chính cái bất ổn, cái gián đoạn lại là lực bật để người đọc nghĩ, để người đọc cảm. Thơ ông dạy em rằng: nghệ thuật và cảm xúc phải đi cùng nhau, và đừng sợ viết về khía cạnh khó của cuộc sống. Em mong một ngày sẽ tự mình đọc toàn bộ tập thơ của ông, và thử viết vài bài thơ nhỏ theo cách “không toàn vẹn” như ông
Quê hương em là một làng nhỏ nằm bên dòng sông hiền hòa. Mỗi sáng, tiếng chim hót vang lên giữa cánh đồng lúa xanh mướt. Chiều về, khói lam tỏa nhẹ từ mái nhà, hòa cùng tiếng trâu bò về chuồng. Mùa gặt, cả làng rộn ràng tiếng cười nói, mùi rơm rạ thơm nồng khắp ngõ. Em yêu quê hương mình vì nơi ấy chứa đựng bao kỷ niệm tuổi thơ trong sáng và yên bình.