Nguyễn Anh Vân
Giới thiệu về bản thân
a. Dấu hiệu nổi bật: câu văn thứ hai trong đoạn được triển khai không đúng với chủ đề chung của đoạn văn.
b. Dấu hiệu của lỗi liên kết:
- Phép nối được sử dụng để liên kết giữa câu một và câu hai chưa phù hợp.
- Giữa câu hai và câu ba chưa có phép liên kết hình thức.
c. Cách sửa:
- Thay thế phép nối "Mặc dù … nên…" giữa câu một với câu hai thành "Vì … nên…", trở thành câu:
"Vì không tìm thấy được ích lợi của đọc sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ nên hầu như mọi người đã vứt bỏ thói quen đọc sách."
- Có thể sửa câu thứ ba thành "Tuy chiếc điện thoại thông minh rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng nó lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn."
a. Lý do đoạn văn vẫn rời rạc: phép liên kết được sử dụng chưa đúng cách, chưa phù hợp, các câu văn chưa có sự liên kết khiến đoạn văn bị rời rạc.
b. Lỗi liên kết: Đoạn văn sử dụng phép liên kết hình thức (phép lặp) chưa phù hợp, chưa liên kết được các câu trong đoạn.
a. Lý do đoạn (1) được coi là đoạn văn:
- Về hình thức:
+ Đoạn văn trên được tạo thành bằng 4 câu văn được liên kết với nhau bằng phép liên kết hình thức: phép lặp.
+ Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào một chữ và viết hoa.
- Về nội dung: đoạn văn có nội dung viết về lòng đồng cảm của con người, thuộc văn bản Yêu và đồng cảm.
b. Các câu trong đoạn văn có sự mạch lạc với nhau, cùng nói về tấm lòng đồng cảm của con người, trong câu đều nhắc đến các từ "tấm lòng" hay "lòng đồng cảm".
c. Dấu hiệu nhận thấy sự mạch lạc giữa các đoạn:
- Đoạn văn trên và các đoạn văn khác đều hướng đến làm nổi bật chủ đề của văn bản Yêu và đồng cảm.
- Đoạn văn trên là một lí lẽ nằm trong đoạn (5) của văn bản, kết lại vấn đề về tấm lòng đồng cảm của trẻ em và con người.
d. Những từ ngữ được lặp lại nhiều lần: con người/người, tấm lòng, lòng đồng cảm, chỉ có/chỉ vì.
Tác dụng của việc lặp lại các từ ngữ trên là để tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu văn, đoạn văn có sự mạch lạc, logic về mặt hình thức.
Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục. Mở đầu, tác giả đưa ra khái niệm “hiền tài”, khẳng định hiền tài có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh dân tộc thông qua cách trọng dụng, đối đãi của những đấng thánh đế minh vương và cuối cùng là nêu lên tác dụng to lớn của việc được khắc tên lên bia tiến sĩ đối với người đương thời và các thế hệ sau. Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, luận điểm trước là tiền đề để luận điểm sau phát triển.
Câu 1:trong văn bản những đoạn nói về trẻ em và tuổi thơ là:câu chuyện về cậu bé giúp tác giả sắp xếp đồ đạc;đoạn nói”trẻ em phần lớn rất giàu lòng đồng cảm ….hồn nhiên trò chuyện với chó mèo,hoa cỏ, búp bê” và đoạn kết “ tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người”
Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ là vì trẻ em có tâm hồn hồn nhiên, trong sáng biết yêu thương và đồng cảm với mọi vật .Qua đó tác giả muốn nhắc người lớn và người nghệ sĩ phải giữ gìn tâm hồn trẻ thơ để cảm nhận và sáng tạo ra cái đẹp
câu 2: Tác giả phát hiện ra trẻ em và người nghệ sĩ đều có điểm chung là giàu lòng đồng cảm, biết đặt tình cảm vào mọi sự vật, nhìn thế giới bằng con mắt hồn nhiên và phát hiện ra cái đẹp ở những điều nhỏ bé bình thường.
Sự khâm phục, trân trọng của tác giả đối với trẻ em được hình thành từ chính trải nghiệm của ông với cậu bé, từ nhận thức rằng trẻ em có tâm hồn thuần khiết – nền tảng của nghệ thuật và nhân cách con người.
câu1: theo tác giả mỗi nghệ nghiệp có một cách nhìn khác nhau về cùng một sự vật ,vù họ quan tâm đến những khía cạnh khác nhau
-nhà khoa học nhìn thấy tính chất và trạng thái của vật
-bác làm vườn nhìn thấy sự sống của vật
-chú thợ mộc nhìn thấy chất liệu của vật
-anh hoạ sĩ thì nhìn thấy dáng vẻ,hình dạng ,màu sắc của vật
=> mỗi người đều có góc nhìn riêng tuỳ theo nghề nghiệp,mục đích và mối quan tâm của mình .Chính điều đó tạo nên sự phong phú trong cách con người cảm nhận thế giới
Câu 2:Cái nhìn của người hoạ sĩ khác với người thường ở chỗ:
- họ khoong nhìn sự vật vì mục đích thực dụng hay quan hệ nhân quả
-mà thưởng thức dáng vẻ,màu sắc,hình dạng
-họ chỉ thấy”thế giới của Mĩ”(cái đẹp) chứ không phải thế giới của Chân và Thiện(sự thật và đạo đức)
-với họ mọi vật đều bình đẳng,dù là cây khô hay tảng đá hay bông hoa dại -tất cả đều có thể trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật
câu 1 :câu chuyện kể về một cậu bé vào phòng tác giả giúp sắp xếp đồ đạc .Cậu bé thấy đồng hồ ,chén trà,giày dép,dây treo tranh đặt không ngay ngắn lên tự chỉnh lại.Khi tác giả khen ngợi cậu bé đáp lại làm vậy vì cảm thấy bứt rứt không yên nếu để chúng lộn xộn
Qua hành động và lời nois hồn nhiên ấy tác giả nhận ra tấm lòng đồng cảm tinh tế và phong phú của cậu bé - một tâm hồn biết rung động với cả những vật vô tri.Từ đó tác giả hiểu rằng đó chính là tâm hồn nhạy cảm trước cái đẹp và là gốc rể của cảm xúc nghệ thuật
Câu2:theo tác giả người thường chỉ có thể đồng cảm với con người hoặc sự vật , còn người nghệ sĩ thì có tấm lòng đồng cảm rộng lớn hơn-họ có thể cảm nhận ,rung động và thấu hiểu mọi vật xung quanh,dù là vô tri như đồ vật ,cảnh vật hay thiên nhiên.Chính lòng đồng cảm bao la ấy giúp họ nhìn thấy cái đẹp trong từng chi tiết nhỏ và sáng tạo nên nghệ thuật
Câu3:tác dụng là :
-làm cho lời nghị luận trở lên sinh động hơn, hấp dẫn và dễ gây hứng thú cho người đọc
-giúp người đọc dễ hiểu,dễ đồng cảm với quan điểm của tác giả qua ví dụ cụ thể
-làm các dẫn tự nhiên để nêu lên vấn đề nghị luận