Lý Gia Hân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu
Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Hồ Chí Minh thể hiện rõ quan niệm mới mẻ, tiến bộ của tác giả về thơ ca. Hai câu thơ đầu nhắc đến đặc điểm quen thuộc của thơ ca cổ: thường nghiêng về việc miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên như núi sông, hoa tuyết, trăng gió. Những hình ảnh ấy tuy đẹp nhưng đã trở nên lặp lại, xa rời hiện thực đời sống con người. Từ đó, hai câu thơ sau đã bộc lộ rõ tư tưởng của tác giả: thơ ca hiện đại cần phải có “thép”, tức là có tinh thần chiến đấu, có ý thức trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc. Trong hoàn cảnh đất nước đang chịu nhiều đau thương, mất mát, thơ không thể chỉ là tiếng nói của cảm xúc cá nhân mà phải trở thành vũ khí tinh thần, cổ vũ con người hành động. Qua bài thơ ngắn gọn, súc tích, Hồ Chí Minh đã khẳng định chức năng xã hội của thơ ca và đề cao vai trò của người nghệ sĩ trong thời đại mới. Đây là một quan niệm đúng đắn, tiến bộ và có ý nghĩa sâu sắc.
Câu 2 (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của giới trẻ hiện nay
Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử, là linh hồn và bản sắc của một dân tộc. Trong dòng chảy mạnh mẽ của thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống càng trở nên quan trọng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ – những người chủ tương lai của đất nước.
Trước hết, văn hóa truyền thống bao gồm những giá trị tốt đẹp được hình thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, trang phục, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”, lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết. Những giá trị ấy không chỉ giúp con người hiểu về cội nguồn dân tộc mà còn định hướng nhân cách, lối sống cho mỗi cá nhân. Đối với giới trẻ hôm nay, văn hóa truyền thống chính là nền tảng để hình thành bản lĩnh, giúp họ không bị hòa tan trong làn sóng văn hóa ngoại lai.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận giới trẻ hiện nay còn thờ ơ, thiếu hiểu biết hoặc xem nhẹ văn hóa truyền thống. Nhiều bạn trẻ sính lối sống thực dụng, chạy theo trào lưu hiện đại mà quên đi những nét đẹp văn hóa của dân tộc. Một số phong tục, lễ hội truyền thống bị hiểu sai, biến tướng hoặc bị xem là lạc hậu. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống trong giới trẻ.
Giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống không có nghĩa là phủ nhận cái mới mà là biết tiếp thu tinh hoa nhân loại một cách có chọn lọc. Giới trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử, trân trọng tiếng Việt, gìn giữ phong tục tốt đẹp trong gia đình, nhà trường và xã hội. Bên cạnh đó, việc phát huy văn hóa truyền thống còn thể hiện ở cách giới trẻ sáng tạo, lan tỏa những giá trị ấy qua các phương tiện hiện đại như mạng xã hội, nghệ thuật, du lịch, thời trang… Khi văn hóa truyền thống được làm mới một cách phù hợp, nó sẽ trở nên gần gũi và có sức sống lâu bền hơn.
Là học sinh – những người trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường – mỗi chúng ta cần ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Từ những hành động nhỏ như ứng xử lễ phép, tôn trọng truyền thống gia đình, đến việc tích cực học tập lịch sử, văn học dân tộc, tất cả đều góp phần bảo vệ những giá trị quý báu ấy.
Giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của mỗi người trẻ Việt Nam. Khi biết trân trọng quá khứ, chúng ta mới có thể vững vàng bước tới tương lai.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Có 4 câu
- Mỗi câu 7 chữ
- Viết bằng chữ Hán, theo phong cách thơ Đường.
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
→ Bài thơ viết theo luật bằng (thất ngôn tứ tuyệt luật bằng).
- Căn cứ vào cách gieo vần và thanh điệu trong các câu thơ phiên âm chữ Hán.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong bài thơ
👉 Biện pháp tu từ
- Gợi lên vẻ đẹp phong phú, nên thơ, lãng mạn của thiên nhiên trong thơ ca cổ.
- Đồng thời cho thấy đề tài quen thuộc, có phần sáo mòn của thơ xưa.
- Làm nổi bật ý đồ phê bình của tác giả: thơ cũ chỉ say mê cái đẹp mà thiếu gắn bó với đời sống thực tế.
**Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”?**
- “Thép” là tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng, trách nhiệm với dân tộc.
- Trong hoàn cảnh đất nước bị áp bức, nhân dân khổ cực, thơ ca không thể chỉ ca ngợi cái đẹp mà phải:
- Phản ánh hiện thực
- Cổ vũ đấu tranh
- Phục vụ cách mạng
Thơ không chỉ để thưởng thức mà còn là vũ khí tinh thần.
câu 1 Nhật kí Đặng Thùy Trâm đều hướng tới việc khắc họa vẻ đẹp của tuổi trẻ, song mỗi đoạn mang một sắc thái nội dung riêng. Nếu đoạn trích trong SGK chủ yếu ca ngợi tuổi trẻ với những khát vọng cá nhân trong tình yêu, hạnh phúc và tương lai, thì đoạn trích của Đặng Thùy Trâm lại đặt tuổi trẻ trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Tuổi hai mươi trong trang nhật kí không còn là mùa xuân yên bình mà là sự hi sinh, mất mát và lựa chọn lớn lao vì Tổ quốc. Ước mơ riêng tư được gác lại để nhường chỗ cho lý tưởng cao cả: độc lập, tự do của đất nước. Qua đó, đoạn trích thể hiện vẻ đẹp bi tráng của tuổi trẻ thời chiến – sẵn sàng dâng hiến cả máu, mồ hôi và tuổi xuân cho dân tộc. So sánh hai đoạn trích giúp người đọc nhận ra: dù ở hoàn cảnh nào, tuổi trẻ luôn đẹp bởi khát vọng sống, nhưng trong chiến tranh, khát vọng ấy được nâng lên thành lí tưởng và trách nhiệm với đất nước.
Câu 2
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản thuộc thể loại nghị luận (nghị luận văn học – chính luận).
→ Vì tác giả bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, cảm xúc về vai trò của nhà thơ, nhà văn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, kết hợp lí lẽ và cảm xúc.
Câu 2. Chỉ ra những dấu hiệu của tính phi hư cấu được thể hiện qua văn bản
Tính phi hư cấu thể hiện ở:
- Đề cập đến những con người, sự kiện có thật: nhà thơ, nhà văn – chiến sĩ, chiến tranh, đất nước bị xâm lược.
- Trích dẫn câu thơ có thật của Hồng Chinh Hiền.
- Cảm xúc, suy nghĩ xuất phát từ hiện thực lịch sử và đời sống, không phải câu chuyện tưởng tượng.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn
Câu văn:
“Không, suốt đời ta không quên, ta không quên cảnh em bé miền Nam đập tay lên vũng máu.”
Biện pháp tu từ:
- Điệp ngữ: “không quên”
- Hình ảnh giàu sức gợi: “em bé miền Nam đập tay lên vũng máu”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh nỗi đau chiến tranh không thể phai mờ.
- Gợi cảm xúc xót xa, căm phẫn, lay động mạnh mẽ tâm hồn người đọc.
- Tăng sức biểu cảm và giá trị tố cáo chiến tranh tàn khốc.
Câu 4. Hiệu quả của việc kết hợp các phương thức biểu đạt
Văn bản kết hợp:
- Nghị luận: trình bày quan điểm, suy nghĩ.
- Biểu cảm: bộc lộ cảm xúc sâu sắc.
- Tự sự (yếu tố nhỏ): nhắc đến hình ảnh, kỉ niệm cụ thể.
- Tăng sức thuyết phục và tính truyền cảm.
- Giúp người đọc vừa hiểu vừa cảm được thông điệp của tác giả.
Câu 5. Suy nghĩ, cảm xúc của anh/chị sau khi đọc đoạn trích
Sau khi đọc đoạn trích, em cảm thấy xúc động, đau xót và tự hào. Đoạn văn giúp em hiểu rõ hơn những mất mát to lớn của chiến tranh và vai trò cao cả của văn nghệ sĩ trong việc bảo vệ Tổ quốc.
Chi tiết để lại ấn tượng sâu sắc nhất là hình ảnh “em bé miền Nam đập tay lên vũng máu” vì đó là hình ảnh ám ảnh, chân thực, cho thấy sự tàn khốc của chiến tranh và nỗi đau mà người dân vô tội phải gánh chịu.
Câu 1
Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du đã khơi dậy nỗi xót thương sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh trong xã hội xưa. Bằng con mắt nhân đạo chan chứa yêu thương, tác giả hướng cái nhìn đến những con người dưới đáy xã hội: người lính bị cưỡng bức vào chốn chiến trường, phận kỹ nữ “buôn nguyệt bán hoa”, người hành khất sống lay lắt giữa đường đời. Họ đều có chung số phận bi thảm: sống trong cơ cực, chết trong tủi hờn, không người thương tiếc, không nơi nương tựa. Qua đó, Nguyễn Du bộc lộ tấm lòng nhân đạo bao la, sự trân trọng đối với sinh mệnh con người và nỗi đau trước bất công xã hội. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thể song thất lục bát giàu nhạc điệu, câu chữ giản dị mà ám ảnh, kết hợp miêu tả, than lament với giọng điệu thương xót, xót xa. Hình ảnh gợi cảm như “mạng người như rác”, “ngọn lửa ma trơi”, “buôn nguyệt bán hoa”, “chết vùi đường quan” làm nổi bật bi kịch của con người. Tất cả đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ, thể hiện rõ chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của đại thi hào Nguyễn Du.
Câu 2
Trong những năm gần đây, thế hệ Gen Z những bạn trẻ sinh ra trong giai đoạn từ năm 1997 đến 2012 – trở thành tâm điểm chú ý của xã hội. Cùng với sự quan tâm là không ít định kiến tiêu cực: Gen Z bị cho là sống ảo, lười biếng, thiếu kiên trì, dễ tổn thương, “thích đòi hỏi nhiều hơn cống hiến”. Những quy chụp này khiến không ít bạn trẻ cảm thấy áp lực và bị soi xét. Tuy nhiên, liệu những nhận định đó có thực sự phản ánh đúng một thế hệ.Trước hết, cần thừa nhận rằng một bộ phận Gen Z có lối sống ưu tiên cảm xúc, dễ thay đổi, thích thể hiện cái tôi và đôi khi thiếu ổn định trong công việc. Việc lớn lên cùng mạng xã hội khiến nhiều bạn có xu hướng chạy theo cái nhìn của người khác hoặc muốn nhanh chóng đạt được kết quả mà không muốn trải qua quá trình rèn luyện. Những biểu hiện này góp phần hình thành định kiến xã hội.Tuy nhiên, nhìn nhận Gen Z một cách toàn diện sẽ cho thấy nhiều phẩm chất tích cực. Đây là thế hệ năng động, có tư duy mở và khả năng tiếp cận tri thức nhanh chóng. Gen Z thành thạo công nghệ, sáng tạo trong công việc, dám thử sức ở nhiều lĩnh vực mới. Họ quan tâm đến các vấn đề xã hội như môi trường, bình đẳng giới, sức khỏe tinh thần. Không ít bạn trẻ khởi nghiệp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trở thành creator, nhà thiết kế, lập trình viên, chủ thương hiệu, đóng góp lớn cho nền kinh tế số. Gen Z không ngại lên tiếng bảo vệ bản thân, dám từ chối môi trường độc hại, hướng tới cân bằng giữa công việc và hạnh phúc. Đó không phải là ích kỉ, mà là nhận thức đúng về giá trị sống.
Thay vì gắn cho Gen Z cái mác tiêu cực, người lớn cần lắng nghe, thấu hiểu và dẫn dắt bằng sự tôn trọng. Bản thân Gen Z cũng cần tự rèn luyện kỷ luật, trách nhiệm và không để cảm xúc che mờ năng lực. Mỗi thế hệ đều có ưu – khuyết điểm; điều quan trọng là biết phát huy điều tốt và sửa chữa hạn chế. Khi được nhìn nhận đúng, Gen Z sẽ không chỉ là “người trẻ nhiều đòi hỏi”, mà là thế hệ tiên phong xây dựng tương lai.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Phương thức biểu đạt kết hợp: miêu tả, tự sự (kể về số phận các loại người), và có yếu tố nghị luận (hàm ý phê phán xã hội, thương cảm con người).
Câu 2.
Các kiếp người được nhắc đến
Người mắc vào khóa lính, phải đi lính, sống cảnh chiến trận.
Người chết trận, chịu họa đạn lạc tên rơi.
Người “buôn nguyệt bán hoa” – những cô gái lỡ làng, bị đẩy vào chốn lầu xanh.
Người nghèo khổ, không nơi nương tựa, chết nhờ hớp cháo lá đa.
Người hành khất – sống nhờ tha phương, chết vùi nơi đường quan.
Câu 3.
“Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!”
Từ láy “lập lòe” gợi hình ảnh mờ ảo, chập chờn, lạnh lẽo của ngọn lửa ma trơi nơi nghĩa địa, tăng cảm giác rợn ngợp và thê lương.
Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xăm, mơ hồ, như tiếng oán than của những linh hồn uất ức không siêu thoát.
→ Cả hai từ láy góp phần làm tăng không khí bi thương, huyền ảo và thể hiện sự xót thương sâu sắc của tác giả đối với những kiếp người khổ nạn.
Câu 5.
Truyền thống nhân đạo là một trong những giá trị tinh thần bền vững nhất của dân tộc Việt Nam. Từ xa xưa, ông cha ta đã luôn biết yêu thương, đùm bọc và cưu mang những người gặp cảnh khốn khó, thể hiện qua những phong tục như cứu tế, lập đàn cầu siêu, hay tinh thần “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần ấy không chỉ giúp con người xích lại gần nhau mà còn tạo nên sức mạnh cộng đồng vững bền. Trong xã hội hiện đại, truyền thống nhân đạo càng cần được tiếp nối bằng những hành động thiết thực: sẻ chia với người yếu thế, tôn trọng giá trị con người và lan tỏa lòng trắc ẩn. Giữ gìn truyền thống ấy chính là giữ gìn phẩm chất đẹp đẽ của dân tộc.
Câu 1
Trong truyện ngắn Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn con người qua những trải nghiệm sâu sắc của nhân vật “tôi”. Tính thuyết phục của văn bản Cái đẹp thể hiện trước hết ở hệ thống hình ảnh giàu sức gợi: đàn voi, rừng già, dòng suối… đều được miêu tả chân thực, vừa gần gũi vừa huyền ảo. Những chi tiết ấy khiến người đọc cảm nhận cái đẹp không chỉ bằng lý trí mà bằng cả xúc cảm. Bên cạnh đó, thao tác lập luận của tác giả rất chặt chẽ: cái đẹp được khẳng định qua đối sánh giữa sự vụ lợi, tàn phá của con người và sự hào phóng, thuần khiết của thiên nhiên. Ngôn ngữ giản dị nhưng sắc sảo, kết hợp chất triết lí với chất nghệ sĩ tạo nên chiều sâu suy tư. Quan trọng hơn, cái đẹp trở thành động lực để nhân vật thức tỉnh về lẽ sống, qua đó tăng tính thuyết phục ở bình diện đạo đức. Nhờ sự hòa quyện giữa cảm xúc chân thành và trải nghiệm sống giàu thực tiễn, văn bản không chỉ ngợi ca thiên nhiên mà còn đánh thức trong người đọc ý thức trân trọng, gìn giữ vẻ đẹp của cuộc đời.
Câu 2
Những năm gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều đoạn clip ghi lại cảnh các bạn trẻ tự nguyện thu gom rác thải ở ao hồ, chân cầu hay bãi biển. Họ mang bao tải, găng tay, kẹp rác… rồi kiên nhẫn nhặt từng mảnh rác bị vứt bừa bãi. Những hình ảnh giản dị ấy nhanh chóng lan tỏa và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng. Từ góc nhìn của người trẻ, tôi cho rằng đây là một hiện tượng tích cực, mang ý nghĩa xã hội sâu xa và gợi mở nhiều suy ngẫm.
Trước hết, hoạt động này phản ánh ý thức trách nhiệm ngày càng cao của giới trẻ đối với môi trường. Nếu trước đây, vấn đề rác thải thường được xem là nhiệm vụ của cơ quan chức năng thì hiện nay nhiều bạn trẻ đã chủ động hành động. Việc quay lại quá trình thu gom rác không phải nhằm khoe khoang mà để truyền cảm hứng, kêu gọi cộng đồng cùng chung tay bảo vệ môi trường sống. Những clip ấy cho thấy một thế hệ năng động, không đứng ngoài trước những vấn đề bức thiết của xã hội.
Thứ hai, hiện tượng này góp phần thay đổi nhận thức của cộng đồng. Sự lan tỏa mạnh mẽ trên mạng xã hội khiến người xem phải nhìn lại hành vi xả rác tùy tiện của chính mình. Khi thấy những người trẻ cúi xuống nhặt từng vỏ chai, túi nilon, ta khó có thể thờ ơ. Mỗi video trở thành một thông điệp trực quan: môi trường chỉ sạch đẹp khi mỗi người biết sống có trách nhiệm. Những việc làm nhỏ, lặp lại nhiều lần sẽ tạo ra thay đổi lớn.
Tuy vậy, bên cạnh mặt tích cực, hiện tượng này cũng đặt ra một số vấn đề cần suy ngẫm. Một số clip bị “làm quá” nhằm câu view, thậm chí tạo hiện trường giả để thu hút người xem. Điều này khiến ý nghĩa tốt đẹp ban đầu bị giảm đi. Ngoài ra, việc các bạn trẻ dọn rác chỉ là giải pháp tình thế; để môi trường thực sự sạch, cần sự phối hợp của chính quyền trong quản lí rác thải, cũng như sự tự giác của toàn cộng đồng.
Từ góc nhìn của người trẻ, tôi tin rằng hành động đẹp cần được tiếp tục, nhưng với tinh thần chân thành, tự nguyện và bền vững. Bên cạnh việc dọn rác, giới trẻ có thể tham gia tuyên truyền, phân loại rác tại nguồn, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần và kêu gọi các chiến dịch xanh trong trường học, khu dân cư. Bảo vệ môi trường không phải là phong trào nhất thời mà là trách nhiệm lâu dài.
Những clip nhặt rác của người trẻ, dù nhỏ bé, đã gieo vào cộng đồng một hạt mầm của sự tử tế. Khi mỗi người biết sống xanh hơn, sạch hơn và có trách nhiệm hơn, chúng ta sẽ cùng tạo nên một môi trường đáng sống cho hôm nay và cho cả thế hệ mai sau.
Câu 1: Xác định luận đề của văn bản trên.
là làm rõ vẻ đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp. Cụ thể, văn bản phân tích cái đẹp trong thiên nhiên, quá trình thức tỉnh nhận thức và sự thay đổi trong nhân vật ông Diểu, cũng như mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong tác phẩm.
Câu 2: Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.
"Tiếng gọi buồn thảm, đau đớn của khỉ đực, tiếng rú thê thảm của khỉ con dưới vực sâu xoáy vào lòng người đọc tiếng gọi của rừng sâu, ám ảnh người đi săn."
Câu này khẳng định tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đối với nhận thức của nhân vật, đặc biệt là thông qua sự đau đớn của những sinh vật bị săn bắn.
Câu 3: Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.
Nhân vật ông Diểu trong truyện ban đầu coi việc đi săn là một thú vui, nhưng qua quá trình tiếp xúc với thiên nhiên và những loài động vật, ông nhận ra sự tàn nhẫn của mình và thức tỉnh về cái đẹp của thiên nhiên. Nhan đề "Muối của rừng"ám chỉ một thứ gì đó rất đỗi giản dị nhưng lại chứa đựng một giá trị sâu sắc. Muối không chỉ là món quà thiên nhiên ban tặng mà còn là hình ảnh biểu tượng cho những gì tinh túy và quý giá trong thiên nhiên. Mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề thể hiện rõ quá trình thay đổi nhận thức và tâm hồn của nhân vật ông Diểu, từ một con người đi săn tàn nhẫn đến một người yêu thiên nhiên và hướng thiện.
Câu 4: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau:
"Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông."
Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn trên có tác dụng tạo ra một hình ảnh thiên nhiên đa dạng, sống động, đầy màu sắc và âm thanh. Các yếu tố thiên nhiên như loài thú, núi non, rừng xanh... được liệt kê một cách phong phú, làm nổi bật sự tươi đẹp, sinh động của thiên nhiên. Cùng với đó là các âm thanh phản ánh sự đau đớn của những sinh vật bị săn bắn, như tiếng súng, tiếng kêu thảm thiết của khỉ. Sự đối lập giữa vẻ đẹp của thiên nhiên và hành động bạo lực của con người đã tạo nên một sự thức tỉnh trong tâm hồn ông Diểu, từ đó gợi lên cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc về cái đẹp và tội ác của việc hủy hoại thiên nhiên.
Câu 5: Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản.
Mục đích của người viết là làm rõ vẻ đẹp trong thiên nhiên qua tác phẩm "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời phân tích sự thay đổi trong nhận thức và cảm xúc của nhân vật ông Diểu từ một người đi săn tàn nhẫn trở thành người yêu thiên nhiên và hướng thiện. Người viết mong muốn phản ánh sự gắn bó, tình yêu của con người với thiên nhiên, cũng như những tác động mà thiên nhiên có thể tạo ra đối với con người.
Quan điểm của người viết thể hiện qua sự đánh giá cao cái đẹp giản dị của thiên nhiên, coi đó là một thứ "muối" nuôi dưỡng tâm hồn và thúc đẩy con người sống thiện lương hơn. Bên cạnh đó, người viết cũng thể hiện sự phản đối đối với việc tàn phá thiên nhiên, đồng thời ca ngợi hành động hướng thiện của nhân vật trong câu chuyện.
Tình cảm của người viết là tình cảm trân trọng và yêu mến thiên nhiên, đồng thời thể hiện sự cảm thông với nhân vật ông Diểu khi ông nhận ra sự sai lầm của mình. Tình cảm này được thể hiện qua việc người viết khắc họa chi tiết những xúc động, sự thức tỉnh trong tâm hồn ông Diểu, cũng như qua những hình ảnh thiên nhiên đầy xúc cảm.