Nguyễn Thanh Tâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thanh Tâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những mốc son chói lọi mãi được khắc sâu trong lòng mỗi người dân. Nếu “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản tuyên ngôn thứ hai, thì “Bản Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình chính là bản tuyên ngôn thứ ba, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ từ chiến khu Tân Trào trở về Hà Nội và ở tại căn nhà nhỏ số 48 Hàng Ngang. Chính trong căn phòng giản dị ấy, Bác đã cẩn trọng từng dòng, từng chữ để soạn thảo bản tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – văn kiện thiêng liêng kết tinh ý chí và khát vọng của cả dân tộc. Những ngày cuối tháng Tám năm 1945, Bác và các đồng chí trong Chính phủ lâm thời làm việc khẩn trương, chuẩn bị cho ngày công bố độc lập. Trưa ngày 2 tháng 9, giữa bầu trời thu trong xanh, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, hàng chục vạn người dân lặng nghe giọng nói trầm ấm, rõ ràng của Bác vang lên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng...”. Tiếng hô “Việt Nam độc lập muôn năm!” vang dậy như sấm, hòa thành lời thề thiêng liêng bảo vệ non sông đất nước. Giờ phút ấy, dân tộc ta chính thức bước sang trang mới – từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời. Bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thế giới về nền độc lập của Việt Nam mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về lòng yêu nước và quyền sống của con người. Dẫu hơn bảy mươi năm đã trôi qua, âm vang của ngày 2 tháng 9 lịch sử vẫn còn vang vọng, nhắc nhở mỗi người Việt Nam hôm nay phải sống, học tập và cống hiến xứng đáng với sự hy sinh của cha ông, gìn giữ và phát huy những giá trị thiêng liêng mà Bác Hồ và bao thế hệ đi trước đã vun đắp.

Qua bài thơ em rút ra được bài học là phải biết giúp đỡ, thấu hiểu và cảm thông với những người vốn từ khi sinh ra tay chân không được lành lặn giống người bình thường. Không được miệt thị, xa lánh những người bị khuyết tật và có hoàn cảnh đặc biệt.

- Hai câu thơ được tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ qua hình ảnh "Hót nắng vàng ánh ỏi"

Tác dụng:

- "ánh ỏi" vốn là từ chỉ âm thanh tiếng chim hót nhưng trong bài thơ này nó lại được tác giả dùng để gợi tả sắc vàng lấp lánh.

- Biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ở trong câu thơ giúp mang đến sự giao hòa giữa ánh sáng và âm thanh: gợi lên trong thế giới của trẻ em khiếm thính một bức tranh sống động và vui tươi một cách đầy diệu kì.

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, có những mốc son chói lọi mãi được khắc sâu trong lòng mỗi người dân. Nếu “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản tuyên ngôn thứ hai, thì “Bản Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình chính là bản tuyên ngôn thứ ba, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ từ chiến khu Tân Trào trở về Hà Nội và ở tại căn nhà nhỏ số 48 Hàng Ngang. Chính trong căn phòng giản dị ấy, Bác đã cẩn trọng từng dòng, từng chữ để soạn thảo bản tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – văn kiện thiêng liêng kết tinh ý chí và khát vọng của cả dân tộc. Những ngày cuối tháng Tám năm 1945, Bác và các đồng chí trong Chính phủ lâm thời làm việc khẩn trương, chuẩn bị cho ngày công bố độc lập. Trưa ngày 2 tháng 9, giữa bầu trời thu trong xanh, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, hàng chục vạn người dân lặng nghe giọng nói trầm ấm, rõ ràng của Bác vang lên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng...”. Tiếng hô “Việt Nam độc lập muôn năm!” vang dậy như sấm, hòa thành lời thề thiêng liêng bảo vệ non sông đất nước. Giờ phút ấy, dân tộc ta chính thức bước sang trang mới – từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời. Bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thế giới về nền độc lập của Việt Nam mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về lòng yêu nước và quyền sống của con người. Dẫu hơn bảy mươi năm đã trôi qua, âm vang của ngày 2 tháng 9 lịch sử vẫn còn vang vọng, nhắc nhở mỗi người Việt Nam hôm nay phải sống, học tập và cống hiến xứng đáng với sự hy sinh của cha ông, gìn giữ và phát huy những giá trị thiêng liêng mà Bác Hồ và bao thế hệ đi trước đã vun đắp.

Câu 1: Văn bản được sử dụng ngôi kể thứ nhất

Câu 2: 2 chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật Ga-ro-nê là:

- Cậu ấy lớn nhất lớp

- Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai

Câu 3: 3 chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật "tôi" đối với Ga-ro-nê là:

- Tất nhiên tôi yêu bạn Ga-ro-nê lắm

- Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó!

- Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu

Câu 4: Mặc dù cả lớp đều yêu quý cậu nhưng vẫn có một số người không có thiện cảm với ga-ro-nê vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của những đứa độc ác: mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay ăn hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.

Câu 5: Qua văn bản, em rút ra được bài học cho mình là biết yêu thương, giúp đỡ bạn khi bạn gặp nạn, biết bảo vệ kẻ yếu. Luôn lan tỏa những điều tích cực đến mọi người. Biết thấu hiểu, động viên, khích lệ bạn khi bạn buồn. Luôn trân trọng những người bạn tốt xung quanh ta.

\(\frac23*\frac54-\frac34*\frac23=\frac23*\left(\frac54-\frac34\right)=\frac23*\frac12=\frac13\)

\(2\cdot\left(\frac{- 3}{2}\right)^2-\frac{7}{2}=2\cdot\frac{9}{4}-\frac{7}{2}=\frac{9}{2}-\frac{7}{2}=1\)
\(-\frac{3}{4}\cdot5\frac{3}{13}-0,75\cdot\frac{36}{13}=-\frac{3}{4}\cdot\frac{68}{13}-\frac{3}{4}\cdot\frac{36}{13}\)
\(=-\frac{3}{4}\left(\right.\frac{68}{13}+\frac{36}{13}\left.\right)\)
\(= - \frac{3}{4} \cdot 8 = - 6\).

\(\frac23*\frac54-\frac34*\frac23=\frac23*\left(\frac54-\frac34\right)=\frac23*\frac12=\frac13\)

\(2\cdot\left(\frac{- 3}{2}\right)^2-\frac{7}{2}=2\cdot\frac{9}{4}-\frac{7}{2}=\frac{9}{2}-\frac{7}{2}=1\)
\(-\frac{3}{4}\cdot5\frac{3}{13}-0,75\cdot\frac{36}{13}=-\frac{3}{4}\cdot\frac{68}{13}-\frac{3}{4}\cdot\frac{36}{13}\)
\(=-\frac{3}{4}\left(\right.\frac{68}{13}+\frac{36}{13}\left.\right)\)
\(= - \frac{3}{4} \cdot 8 = - 6\).

\(\frac23*\frac54-\frac34*\frac23=\frac23*\left(\frac54-\frac34\right)=\frac23*\frac12=\frac13\)

\(2\cdot\left(\frac{- 3}{2}\right)^2-\frac{7}{2}=2\cdot\frac{9}{4}-\frac{7}{2}=\frac{9}{2}-\frac{7}{2}=1\)
\(-\frac{3}{4}\cdot5\frac{3}{13}-0,75\cdot\frac{36}{13}=-\frac{3}{4}\cdot\frac{68}{13}-\frac{3}{4}\cdot\frac{36}{13}\)
\(=-\frac{3}{4}\left(\right.\frac{68}{13}+\frac{36}{13}\left.\right)\)
\(= - \frac{3}{4} \cdot 8 = - 6\).