Nguyễn Trịnh Hồng Hạnh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Trịnh Hồng Hạnh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Ngôi thứ nhất.

Câu 2:

Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của nhân vật Ga-ro-nê là:

– Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.

– Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.

Câu 3:

– Ba chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật “tôi” với Ga-ro-nê là:

+ Người đã cho cậu bé miền Nam cái tem thư hôm trước là người bạn mà tôi thích hơn hết.

+ Trong ngần ấy người bạn, theo ý tôi, thì Ga-ro-nê là người tốt hơn cả.

Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.

– Nhân vật “tôi” rất yêu quý, tự hào, tin tưởng và quan tâm đến Ga-ro-nê.

Câu 4:

– Mặc dù cả lớp đều yêu quý cậu nhưng vẫn có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của những đứa độc ác: mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.

– Qua đó, ta thấy nhân vật Ga-ro-nê là người biết bênh vực lẽ phải, luôn giúp đỡ mọi người xung quanh, đặc biệt là người yếu thế.

Câu 5:

Qua văn bản, em học được là : phải luôn biết quan tâm giúp đỡ bạn bè khi họ cần. Không chỉ vậy,mỗi chúng ta cần biết đối xử tốt với tất cả mọi người, kể cả người yếu thế hơn mình. Và cư xử với bạn bè xung quanh một cách thân thiện, hoà nhã và yêu thương lẫn nhau. Vì những điều này sẽ giúp cho chúng ta được bạn bè yêu quý, tôn trọng ; cũng như tình bạn của ta với mọi người sẽ trở nên bền chặt và có ý nghĩa hơn .

– Biện pháp tu từ ẩn dụ: hót nắng vàng ánh ỏi.

– Tác dụng: “Ánh ỏi” vốn là từ gợi lên âm thanh tiếng chim, nhưng trong bài thơ này nó còn gợi cả sắc nắng vàng lấp lánh. Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ở đây (cảm nhận tiếng hót bằng thị giác thay vì bằng thính giác) có tác dụng đem đến sự giao hòa giữa âm thanh và ánh sáng; gợi lên trong thế giới của trẻ khiếm thính một vùng trời sống động, sinh sắc và vui tươi một cách đầy diệu kì.

Trong trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam, có những cái tên, những số phận đã trở thành huyền thoại, là biểu tượng cho tinh thần yêu nước và ý chí quật cường. Võ Thị Sáu (1933–1952), người con gái Đất Đỏ (Bà Rịa – Vũng Tàu), là một nữ anh hùng như thế. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng oanh liệt của chị đã tạc nên tượng đài bất tử về lòng dũng cảm, sự hy sinh cao cả của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ.

Võ Thị Sáu tham gia cách mạng từ rất sớm, khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ mới 14 tuổi. Chị đã sớm giác ngộ và tham gia vào đội công an xung phong, thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, từ làm giao liên, rải truyền đơn, đến trực tiếp tham gia các trận đánh táo bạo nhằm trấn áp kẻ thù. Năm 1950, trong một lần thực hiện nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Dù mới 17 tuổi, nhưng trước những đòn tra tấn dã man và những lời dụ dỗ ngọt ngào của quân thù, Võ Thị Sáu vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không hề hé răng khai báo hay khuất phục. Chính sự gan dạ, kiên cường đó đã khiến kẻ địch phải kinh ngạc và thán phục.

Mặc dù chưa đến tuổi thành niên, theo luật pháp thời bấy giờ, không được phép xử tử, nhưng do quá căm ghét và sợ hãi tinh thần bất khuất của chị, thực dân Pháp đã quyết định đưa Võ Thị Sáu ra xử bắn. Năm 1951, chị bị đày ra Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Tại đây, Võ Thị Sáu trở thành ngọn lửa tinh thần tiếp thêm sức mạnh cho các tù nhân chính trị. Sự lạc quan, yêu đời và niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng của chị đã xua tan đi phần nào bóng tối và sự tuyệt vọng của nhà tù. Chị đã trở thành người chị, người đồng chí thân thiết, củng cố ý chí chiến đấu cho nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng khác.

Sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952, chính quyền thực dân Pháp tiến hành xử bắn Võ Thị Sáu. Lúc đó, chị chỉ mới 19 tuổi. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, hình ảnh Võ Thị Sáu đã khắc sâu vào lịch sử và lòng người. Chị từ chối bị bịt mắt, muốn nhìn rõ viên đạn của kẻ thù. Chị ung dung, hiên ngang tiến ra pháp trường, không hề run sợ. Giọng hát cách mạng của chị đã vang lên mạnh mẽ: "Tiến lên! Chiến sĩ ơi!" cùng với bài ca truyền thống. Khi bị trói vào cột, chị vẫn mỉm cười, gửi lời chào cuối cùng đến đồng đội và nhân dân.

Sự hy sinh anh dũng của Võ Thị Sáu đã biến cái chết thành một bản hùng ca bất tử. Người con gái Đất Đỏ đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên cường, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Mặc dù kẻ thù muốn dập tắt ngọn lửa cách mạng bằng bạo lực, nhưng cái chết của chị lại thắp lên ngọn lửa lớn hơn trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Hình ảnh nữ anh hùng trẻ tuổi với nụ cười thanh thoát, tiếng hát kiên cường trước họng súng kẻ thù sẽ còn mãi mãi là nguồn sức mạnh, là niềm tự hào của dân tộc, là "khúc hát trăng non" vĩnh cửu trên mảnh đất Côn Đảo linh thiêng.

 

 

Trong trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam, có những cái tên, những số phận đã trở thành huyền thoại, là biểu tượng cho tinh thần yêu nước và ý chí quật cường. Võ Thị Sáu (1933–1952), người con gái Đất Đỏ (Bà Rịa – Vũng Tàu), là một nữ anh hùng như thế. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng oanh liệt của chị đã tạc nên tượng đài bất tử về lòng dũng cảm, sự hy sinh cao cả của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ.

Võ Thị Sáu tham gia cách mạng từ rất sớm, khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ mới 14 tuổi. Chị đã sớm giác ngộ và tham gia vào đội công an xung phong, thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, từ làm giao liên, rải truyền đơn, đến trực tiếp tham gia các trận đánh táo bạo nhằm trấn áp kẻ thù. Năm 1950, trong một lần thực hiện nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Dù mới 17 tuổi, nhưng trước những đòn tra tấn dã man và những lời dụ dỗ ngọt ngào của quân thù, Võ Thị Sáu vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không hề hé răng khai báo hay khuất phục. Chính sự gan dạ, kiên cường đó đã khiến kẻ địch phải kinh ngạc và thán phục.

Mặc dù chưa đến tuổi thành niên, theo luật pháp thời bấy giờ, không được phép xử tử, nhưng do quá căm ghét và sợ hãi tinh thần bất khuất của chị, thực dân Pháp đã quyết định đưa Võ Thị Sáu ra xử bắn. Năm 1951, chị bị đày ra Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Tại đây, Võ Thị Sáu trở thành ngọn lửa tinh thần tiếp thêm sức mạnh cho các tù nhân chính trị. Sự lạc quan, yêu đời và niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng của chị đã xua tan đi phần nào bóng tối và sự tuyệt vọng của nhà tù. Chị đã trở thành người chị, người đồng chí thân thiết, củng cố ý chí chiến đấu cho nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng khác.

Sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952, chính quyền thực dân Pháp tiến hành xử bắn Võ Thị Sáu. Lúc đó, chị chỉ mới 19 tuổi. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, hình ảnh Võ Thị Sáu đã khắc sâu vào lịch sử và lòng người. Chị từ chối bị bịt mắt, muốn nhìn rõ viên đạn của kẻ thù. Chị ung dung, hiên ngang tiến ra pháp trường, không hề run sợ. Giọng hát cách mạng của chị đã vang lên mạnh mẽ: "Tiến lên! Chiến sĩ ơi!" cùng với bài ca truyền thống. Khi bị trói vào cột, chị vẫn mỉm cười, gửi lời chào cuối cùng đến đồng đội và nhân dân.

Sự hy sinh anh dũng của Võ Thị Sáu đã biến cái chết thành một bản hùng ca bất tử. Người con gái Đất Đỏ đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên cường, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Mặc dù kẻ thù muốn dập tắt ngọn lửa cách mạng bằng bạo lực, nhưng cái chết của chị lại thắp lên ngọn lửa lớn hơn trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Hình ảnh nữ anh hùng trẻ tuổi với nụ cười thanh thoát, tiếng hát kiên cường trước họng súng kẻ thù sẽ còn mãi mãi là nguồn sức mạnh, là niềm tự hào của dân tộc, là "khúc hát trăng non" vĩnh cửu trên mảnh đất Côn Đảo linh thiêng.

 

 

Trong trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam, có những cái tên, những số phận đã trở thành huyền thoại, là biểu tượng cho tinh thần yêu nước và ý chí quật cường. Võ Thị Sáu (1933–1952), người con gái Đất Đỏ (Bà Rịa – Vũng Tàu), là một nữ anh hùng như thế. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng oanh liệt của chị đã tạc nên tượng đài bất tử về lòng dũng cảm, sự hy sinh cao cả của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ.

Võ Thị Sáu tham gia cách mạng từ rất sớm, khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ mới 14 tuổi. Chị đã sớm giác ngộ và tham gia vào đội công an xung phong, thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, từ làm giao liên, rải truyền đơn, đến trực tiếp tham gia các trận đánh táo bạo nhằm trấn áp kẻ thù. Năm 1950, trong một lần thực hiện nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Dù mới 17 tuổi, nhưng trước những đòn tra tấn dã man và những lời dụ dỗ ngọt ngào của quân thù, Võ Thị Sáu vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không hề hé răng khai báo hay khuất phục. Chính sự gan dạ, kiên cường đó đã khiến kẻ địch phải kinh ngạc và thán phục.

Mặc dù chưa đến tuổi thành niên, theo luật pháp thời bấy giờ, không được phép xử tử, nhưng do quá căm ghét và sợ hãi tinh thần bất khuất của chị, thực dân Pháp đã quyết định đưa Võ Thị Sáu ra xử bắn. Năm 1951, chị bị đày ra Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Tại đây, Võ Thị Sáu trở thành ngọn lửa tinh thần tiếp thêm sức mạnh cho các tù nhân chính trị. Sự lạc quan, yêu đời và niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng của chị đã xua tan đi phần nào bóng tối và sự tuyệt vọng của nhà tù. Chị đã trở thành người chị, người đồng chí thân thiết, củng cố ý chí chiến đấu cho nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng khác.

Sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952, chính quyền thực dân Pháp tiến hành xử bắn Võ Thị Sáu. Lúc đó, chị chỉ mới 19 tuổi. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, hình ảnh Võ Thị Sáu đã khắc sâu vào lịch sử và lòng người. Chị từ chối bị bịt mắt, muốn nhìn rõ viên đạn của kẻ thù. Chị ung dung, hiên ngang tiến ra pháp trường, không hề run sợ. Giọng hát cách mạng của chị đã vang lên mạnh mẽ: "Tiến lên! Chiến sĩ ơi!" cùng với bài ca truyền thống. Khi bị trói vào cột, chị vẫn mỉm cười, gửi lời chào cuối cùng đến đồng đội và nhân dân.

Sự hy sinh anh dũng của Võ Thị Sáu đã biến cái chết thành một bản hùng ca bất tử. Người con gái Đất Đỏ đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên cường, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Mặc dù kẻ thù muốn dập tắt ngọn lửa cách mạng bằng bạo lực, nhưng cái chết của chị lại thắp lên ngọn lửa lớn hơn trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Hình ảnh nữ anh hùng trẻ tuổi với nụ cười thanh thoát, tiếng hát kiên cường trước họng súng kẻ thù sẽ còn mãi mãi là nguồn sức mạnh, là niềm tự hào của dân tộc, là "khúc hát trăng non" vĩnh cửu trên mảnh đất Côn Đảo linh thiêng.