Vũ Trí Ngọc Dương
Giới thiệu về bản thân
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những mốc son chói lọi mãi mãi được khắc sâu trong lòng mỗi người dân. Nếu “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền Đại Việt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản tuyên ngôn thứ hai khẳng định nền độc lập sau chiến thắng quân Minh, thì “Bản Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình chính là bản tuyên ngôn thứ ba, mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công rực rỡ, từ chiến khu Tân Trào, ngày 22 tháng 8 năm 1945, Bác Hồ về tới Hà Nội trong niềm hân hoan của toàn dân. Người ở tại tầng hai căn nhà số 48 Hàng Ngang - một căn phòng nhỏ, đơn sơ, nơi mà lịch sử dân tộc đã chứng kiến thời khắc trọng đại. Không có bàn viết riêng, Bác ngồi bên chiếc bàn ăn giản dị, cẩn trọng từng con chữ, từng dòng, để soạn thảo văn kiện thiêng liêng nhất của dân tộc: Bản Tuyên ngôn Độc lập. Chính trong căn phòng mộc mạc ấy, bản tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời, kết tinh ý chí, khát vọng và trí tuệ của cả dân tộc Việt Nam.
Những ngày cuối tháng Tám năm 1945 là quãng thời gian làm việc khẩn trương của Bác Hồ và các đồng chí trong Chính phủ lâm thời. Sáng ngày 26/8, Bác triệu tập cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng để bàn về những chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới và chuẩn bị công bố bản tuyên ngôn độc lập. Ngày 27/8, Người chủ trì cuộc họp của Ủy ban Dân tộc Giải phóng, đề nghị thành lập Chính phủ thống nhất quốc gia và được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Bản thảo Tuyên ngôn được Bác viết, đánh máy, rồi trao đổi, góp ý cùng các đồng chí trong suốt những ngày 28, 29 và 30/8. Trong từng dòng chữ ấy, Bác gửi gắm lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
Rồi ngày lịch sử 2 tháng 9 năm 1945đã đến – một buổi trưa thu trong sáng, trời xanh và gió nhẹ. Tại Quảng trường Ba Đình, hàng chục vạn người dân từ khắp mọi miền đất nước tụ hội, cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay trong nắng. Trên lễ đài trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già của dân tộc – xuất hiện trong bộ kaki giản dị, giọng nói điềm đạm, rõ ràng vang lên giữa quảng trường rộng lớn: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...”. Cả biển người lặng đi trong xúc động, rồi tiếng reo hò “Việt Nam độc lập muôn năm!” vang dậy như sấm. Khi Bác dừng lại và hỏi: “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”, tiếng đáp “Rõ! Rõ!” đồng loạt vang lên, hòa làm một lời thề thiêng liêng của dân tộc Việt Nam – lời thề giữ vững độc lập, tự do đến muôn đời.
Giờ phút ấy, lịch sử Việt Nam sang trang mới- từ thân phận nô lệ, dân tộc ta bước lên làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác Hồ không chỉ là lời tuyên bố với toàn thế giới rằng Việt Nam đã hoàn toàn tự do, mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về tinh thần yêu nước, về quyền con người, quyền dân tộc thiêng liêng. Bản tuyên ngôn ấy còn khẳng định trước công luận quốc tế rằng mọi hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam đều đi ngược lại xu thế của nhân loại tiến bộ.
Sự kiện ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã trở thành niềm tự hào vô tận của mỗi người Việt Nam. Giọng đọc của Bác, nụ cười hiền từ của Người, và lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa trời thu Hà Nội mãi là biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc. Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng âm vang của ngày độc lập vẫn còn vang vọng trong lòng mỗi người dân Việt, nhắc nhở chúng ta phải sống xứng đáng với sự hi sinh của cha anh, tiếp bước lý tưởng của Người, giữ vững non sông gấm vóc mà Bác và bao thế hệ đã dày công dựng xây.
Sự Trưởng thành: Quá trình học tập biến sự hồn nhiên, chăm chú của học sinh thành nhận thức có ý nghĩa ("từng âm có nghĩa"), giúp các em cất cánh như chim non.
Hai câu thơ đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.
Tác dụng:
Chuyển đổi cảm giác: Lấy thính giác (tiếng hót của chim sẻ) để cảm nhận thị giác và xúc giác (màu vàng và ánh ỏi, chói chang của nắng).
Giá trị biểu cảm: Không chỉ miêu tả tiếng chim, mà còn gợi tả sức sống mãnh liệt, rực rỡ và sự tràn ngập của ánh nắng ban mai (hoặc mùa hè) ngay trong khoảnh khắc tiếng chim cất lên.
Hình ảnh sinh động, giàu sức gợi: Khán giả không chỉ nghe thấy tiếng chim mà còn cảm nhận được cả sắc độ, độ chói lòa của ánh nắng được "chứa đựng" trong tiếng hót ấy. Nó tạo nên một sự hòa quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và ánh sáng.
Số khóm hoa cần trồng dọc theo chiều dài là:
\(5 , 5 : \frac{1}{4} = 22\) (khóm hoa)
Số khóm hoa cần trồng dọc theo chiều rộng là:
\(3 , 75 : \frac{1}{4} = 15\) (khóm hoa)
Vì mỗi khóm hoa ở bốn đỉnh của mảnh vườn hình chữ nhật được tính 2 lần nên số khóm hoa cần trồng bằng số khóm hoa trồng dọc theo các ccạnh của mảnh vườn trừ 4
Dọc theo các cạnh của mảnh vườn người ta cần trồng số khóm hoa là:
\(\left[\right. \left(\right. 22 + 15 \left.\right) . 2 \left]\right. - 4 = 70\) (khóm hoa)
Vậy cần trồng 70 khóm hoa
Số khóm hoa cần trồng dọc theo chiều dài là:
\(5 , 5 : \frac{1}{4} = 22\) (khóm hoa)
Số khóm hoa cần trồng dọc theo chiều rộng là:
\(3 , 75 : \frac{1}{4} = 15\) (khóm hoa)
Vì mỗi khóm hoa ở bốn đỉnh của mảnh vườn hình chữ nhật được tính 2 lần nên số khóm hoa cần trồng bằng số khóm hoa trồng dọc theo các ccạnh của mảnh vườn trừ 4
Dọc theo các cạnh của mảnh vườn người ta cần trồng số khóm hoa là:
\(\left[\right. \left(\right. 22 + 15 \left.\right) . 2 \left]\right. - 4 = 70\) (khóm hoa)
Vậy cần trồng 70 khóm hoa
Số khóm hoa cần trồng dọc theo chiều dài là:
\(5 , 5 : \frac{1}{4} = 22\) (khóm hoa)
Số khóm hoa cần trồng dọc theo chiều rộng là:
\(3 , 75 : \frac{1}{4} = 15\) (khóm hoa)
Vì mỗi khóm hoa ở bốn đỉnh của mảnh vườn hình chữ nhật được tính 2 lần nên số khóm hoa cần trồng bằng số khóm hoa trồng dọc theo các ccạnh của mảnh vườn trừ 4
Dọc theo các cạnh của mảnh vườn người ta cần trồng số khóm hoa là:
\(\left[\right. \left(\right. 22 + 15 \left.\right) . 2 \left]\right. - 4 = 70\) (khóm hoa)
Vậy cần trồng 70 khóm hoa