Giáp Phương Thảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Giáp Phương Thảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1. Mở bài: dẫn dắt, giới thiệu trò chơi: cướp cờ là một trò chơi dân gian vô cùng ý nghĩa.

2. Thân bài:

a. Nguồn gốc trò chơi:

- Cướp cờ - trò chơi mang tính đồng đội rất phổ biến, thường được sử dụng khi tổ chức các hoạt động sinh hoạt thiếu nhi tập thể ở thôn, xóm, xã, phường.

- Nguồn gốc thực sự của trò cướp cờ đến giờ vẫn còn là ẩn số, mọi người hầu như chỉ biết đến nó qua con đường truyền miệng.

b. Yêu cầu về đối tượng chơi:

- Trò chơi cướp cờ phù hợp với mọi lứa tuổi.

- Không bị giới hạn số lượng người chơi, nhưng cần có tổng số chẵn để chia thành 2 đội. Thường 1 đội sẽ có từ 5 người trở lên.

- Không gian chơi: không gian rộng rãi và bằng phẳng, không có các chướng ngại vật, các vật dụng có thể gây nguy hiểm xung quanh và không có xe cộ di chuyển qua lại.

c. Chuẩn bị trò chơi:

- Cờ hoặc có thể dùng khăn tay, cành cây tuỳ thuộc vào hoàn cảnh.

- Phấn vẽ: giữa sân chơi vẽ một vòng tròn có đường kính khoảng 20 - 25 cm. Ở giữa vòng tròn, đặt vật dùng để làm cờ. Ở mỗi đầu sân, kẻ 2 đường thẳng song song, đối xứng với nhau qua vòng tròn, cách vòng tròn khoảng 6 đến 7m.

d. Cách chơi, luật chơi:

- Cách chơi: + Quản trò chia tập thể chơi thành hai đội, có số lượng bằng nhau mỗi đội có từ 5-6 bạn, đứng hàng ngang ở vạch xuất phát của đội mình. Đếm theo số thứ tự 1,2,3,4,5… các bạn phải nhớ số của mình. + Khi quản trò gọi tới số nào thì số đó của hai đội nhanh chóng chạy đến vòng và cướp cờ. + Khi quản trò gọi số nào về thì số đó phải về. + Một lúc quản trò có thể gọi hai ba bốn số. - Luật chơi: + Khi đang cằm cờ nếu bị bạn vỗ vào người, thua cuộc + Khi lấy được cờ chạy về vạch xuất phát của đội mình không bị đội bạn vỗ vào người, thắng cuộc. + Khi có nguy cơ bị vỗ vào người thì được phép bỏ cờ xuống đất để chánh bị thua. + Số nào vỗ số đó không được vỗ vào số khác. Nếu bị số khác vỗ vào không thua. + Số nào bị thua rồi (“bị chết”) quản trò không gọi số đó chơi nữa. + Người chơi không được ôm, giữ nhau cho bạn cướp cờ. + Người chơi tìm cách lừa đối phương để nhang cờ về, lựa chọn sân bải phù hợp để chánh nguy cơ, cờ ra khỏi vòng tròn, để cờ lại vòng tròn chỉ được cướp cờ trong vòng tròn. + Khoảng cách cờ đến hai đội bằng nhau. e. Ý nghĩa trò chơi: - Trò chơi cướp cờ góp phần giữ gìn truyền thống dân tộc. - Trò chơi giúp rèn luyện trí tuệ, sự nhanh nhẹn, tinh thần đoàn kết. 3. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của trò chơi: góp phần phát huy, lan toả bản sắc văn hoá dân tộc.

1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu trò chơi: thi thả diều là một trò chơi dân gian giàu ý nghĩa.

2. Thân bài:

a. Nguồn gốc:

Diều giấy có nguồn từ Trung Quốc và xuất hiện tại các nước vùng Đông Nam Á gần như cùng một lúc. Nó vừa có tác dụng trang trí, vừa có thể làm đồ chơi. Không giống như chúng ta bây giờ, ngày ấy đến cả người lớn, người già, vua, quan đều có một thú vui tao nhã đó là thả diều.

b. Yêu cầu về đối tượng chơi, người chơi:

- Trò chơi thi thả diều thích hợp đối với mọi lứa tuổi. 

- Khi thả diều, cần có hai người. Một người cầm dây và một người lao diều. Người lao diều phải nâng mũi diều chếch một góc khoảng 45 độ, lao diều nhẹ nhàng theo hướng gió. Người cầm dây vừa chạy vừa thả dây để gió nâng diều lên cao. Hai người phải phối hợp với nhau nhịp nhàng.

c. Chuẩn bị trò chơi:

- Cánh diều, có thể mua sẵn hoặc tự làm cánh diều cho mình:

+ Thường có hình trăng lưỡi liềm.

+ Nguyễn liệu chính dùng để làm diều là giấy bản.

- Cách làm điều trông có vẻ đơn giản nhưng vẫn đòi hỏi sự khéo léo mới có thể làm được.

- Khung điều làm bằng cật tre mềm, khả năng lên phải nhẹ nhưng vẫn giữ được độ chắc chắn.

d. Quy tắc, cách chơi:

- Khi các đấu thủ đã đứng vào vị trí thích hợp một hồi trống nổi lên, loa bắt đầu gọi, điều được đồng loạt lao lên.

- Người điều khiển phải giật dây, chính cho diều lên thật từ từ. Khi no gió, diều lao vút lên cao

- Trên sân thả, các đấu thủ đi về một điểm. Sau đó, ban chủ khảo bàn bạc để chấm giải điều.

- Diều được lệnh cho hạ cánh. Cách mặt đất chừng 30m, diều được điều khiển sao cho lao xuống như một mũi tên bắn thẳng, cắm đứng trên cánh đồng.

e. Ý nghĩa của trò chơi:

- Giúp cho người chơi gần gũi với thiên nhiên, yêu hình ảnh quê hương đất nước mình có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, biết chia sẻ với mọi người.

- Qua sự vận động trong thả diều sẽ nâng cao được thể lực sức khỏe, sự khéo léo, phản xạ nhanh...

- Trỏ thả điều là một sản phẩm văn hóa của cộng đồng có giá trị, ảnh hưởng tích cực và cần thiết đến đời sống tinh thần của người dân.

3. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa trò chơi: Những con diều đã cắt cánh bay lên trời cao, cũng mang theo một nét đẹp văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc được tung cánh.

1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu trò chơi: trò chơi pháo đất là một trò chơi dân gian nổi tiếng và có nhiều ý nghĩa.

2. Thân bài: 

a. Nguồn gốc trò chơi:

- Là trò chơi xuất hiện từ rất lâu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

- Trong trận đánh giặc Nguyên Mông năm 1288, để cứu con voi của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhân dân ném đất xuống khúc sông tiếp giáp của tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình. 

- Mỗi khi nông nhàn, nhân dân thường tụ tập diễn lại cảnh này và dần hình thành nên trò chơi pháo đất. 

- Hàng năm, các địa phương thường tổ chức và dịp từ tháng Giêng đến hết tháng Ba âm lịch.

b. Yêu cầu về đối tượng chơi, người chơi:

- Độ tuổi người chơi: thanh niên trai tráng hoặcc người có kinh nghiệm nặn pháo đất.

- Số lượng người chơi: không giới hạn, trong cuộc thi thường có nhiều đội chơi, mỗi đội khoảng 10-20 người chơi.

- Không gian chơi: không gian rộng rãi, bằng phẳng (sân đình, sân kho,...).

c. Chuẩn bị chơi:

- Công cụ: pháo đất.

- Chuẩn bị pháo đất: pháo đất làm từ đất có độ quánh cao như đất sét, đất thịt và có dạng hình bầu dục. có thành dày hơn đáy với kích thước linh hoạt. Tại các hội thi, pháo đất có kích thước rất to và được gọi là mân pháo. 

d. Quy tắc, cách chơi:

- Luật chơi: người chơi được chia một lượng đất đều nhau để làm pháo đất. Người chơi lần lượt cho pháo đất nổ, pháo của ai nổ to nhất thì người đó chiến thắng.

- Cách chơi: 

+ Các đội trình diễn kĩ năng làm pháo của mình: 

- Sau khi hiệu lệnh bắt đầu, các đội thi sẽ trình diễn kĩ năng làm pháo của mình. Đầu tiên sẽ dùng ngón tay cái làm trụ, ngón giữa xoay rồi dùng tay còn lại vừa giữ vừa vuốt tạo thân pháo hình bầu dục, vừa vặn, vừa vuốt mép cho nhẵn, phẳng.
- Phần mẹ hoàn thành xong sẽ làm tiếp đến phần con và đòi hỏi kĩ thuật cao hơn. Dùng con trỏ làm cữ, tay kia vừa bấm đất để ra được ra hình con rắn. Phần này có hông pháo to và càng ra ngoài thì càng thon và nhỏ dần.
- Khi pháo được làm xong sẽ có hiệu lệnh và người được chọn quăng pháo vào vị trí. Có thể có thêm 2-3 người hộ tống đỡ pháo lên tay cho người quăng. Khi pháo rơi gây ra tiếng nổ và con pháo bung ra. Trọng tài sẽ đo độ dài của con pháo để quy ra điểm.

e. Ý nghĩa của trò chơi:

- Trò chơi có lịch sử lâu đời, mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc.

- Trò chơi thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.

- Trò chơi giúp rèn luyện sức khoẻ, tinh thần đoàn kết.

3. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của trò chơi: góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.


Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhắc đến thời kì phong kiến chống giặc ngoại xâm, chúng ta không thể quên vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo – người đã chỉ huy quân dân Đại Việt ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông hùng mạnh. Trong đó, chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là một sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tài năng và lòng yêu nước của ông. Năm 1288, sau hai lần xâm lược thất bại, quân Nguyên – Mông tiếp tục đưa quân sang xâm lược nước ta lần thứ ba. Trước thế giặc mạnh và hung hãn, Trần Hưng Đạo đã đề ra kế sách “vườn không nhà trống”, vừa đánh vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, làm cho quân địch rơi vào thế bị động và thiếu lương thực. Khi thời cơ chín muồi, ông quyết định chọn sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến. Trần Hưng Đạo cho quân bí mật đóng cọc gỗ lớn bịt sắt nhọn xuống lòng sông. Ông tính toán rất kĩ con nước thủy triều lên xuống. Khi thủy triều dâng cao, ông cho quân ra khiêu chiến, nhử địch tiến sâu vào bãi cọc. Quân Nguyên hăm hở đuổi theo mà không hề biết mình đã rơi vào bẫy. Đến khi nước rút, những hàng cọc nhọn trồi lên, thuyền giặc mắc cạn, vỡ tan. Quân ta từ hai bên bờ và phía sau đồng loạt tấn công dữ dội. Trận chiến diễn ra ác liệt, cuối cùng quân Nguyên đại bại, nhiều tướng giặc bị tiêu diệt. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã chấm dứt hoàn toàn âm mưu xâm lược của quân Nguyên – Mông đối với nước ta. Tên tuổi Trần Hưng Đạo trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí quật cường và tài thao lược xuất sắc. Sự kiện lịch sử ấy không chỉ là niềm tự hào của dân tộc mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng, giữ gìn độc lập và ra sức học tập để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, có biết bao tấm gương anh hùng sáng chói. Một trong những người anh hùng trẻ tuổi khiến em vô cùng khâm phục là Trần Quốc Toản – chàng thiếu niên mới mười sáu tuổi đã sớm nuôi chí lớn cứu nước. Năm 1284, khi quân Nguyên – Mông lăm le xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần mở hội nghị ở bến Bình Than để bàn kế đánh giặc. Trần Quốc Toản khi ấy còn nhỏ tuổi nên không được dự bàn việc nước. Dù rất yêu nước và tha thiết muốn góp sức, chàng vẫn bị từ chối. Đứng ngoài nơi hội nghị, nghe tin mình không được vào, Trần Quốc Toản vừa tủi thân vừa căm giận quân xâm lược. Trong tay chàng đang cầm quả cam vua ban, nhưng vì uất ức, chàng đã bóp nát lúc nào không hay. Không nản chí, trở về nhà, Trần Quốc Toản tự chiêu mộ quân lính, sắm sửa vũ khí, đóng thuyền chiến để chuẩn bị ra trận. Chàng cho thêu lên lá cờ sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân” – nghĩa là đánh tan giặc mạnh, đền đáp ơn vua. Lá cờ ấy thể hiện quyết tâm sắt đá và lòng trung thành son sắt của người thiếu niên yêu nước. Khi cuộc kháng chiến bùng nổ, Trần Quốc Toản đã cùng nghĩa quân xông pha nơi chiến trận, lập nhiều chiến công hiển hách. Dù tuổi còn trẻ, chàng chiến đấu dũng cảm không thua kém bất kỳ vị tướng nào. Hình ảnh chàng thiếu niên tay cầm cờ thêu sáu chữ vàng đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ về lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc ta. Câu chuyện về Trần Quốc Toản khiến em hiểu rằng tuổi trẻ không phải là rào cản để cống hiến cho đất nước. Chỉ cần có lòng yêu nước và quyết tâm, mỗi người đều có thể làm nên những điều lớn lao. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống anh hùng của cha ông

Quê hương Bắc Giang của em không chỉ nổi tiếng với vải thiều Lục Ngạn mà còn là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước. Nhắc đến lịch sử nơi đây, em luôn tự hào về người anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám – người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp suốt nhiều năm. Một sự việc khiến em ấn tượng nhất là khi nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy đã nhiều lần đánh bại quân Pháp trong những trận phục kích ở rừng núi Yên Thế. Lúc bấy giờ, lực lượng của ta còn ít, vũ khí thô sơ, trong khi quân Pháp đông và trang bị hiện đại. Thế nhưng, nhờ am hiểu địa hình rừng núi hiểm trở và sự mưu trí của Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân đã chọn cách đánh du kích, ẩn mình trong rừng sâu, bất ngờ tấn công rồi nhanh chóng rút lui. Có lần, quân Pháp kéo đến bao vây căn cứ, nhưng bằng sự bình tĩnh và tài chỉ huy, ông đã tổ chức cho nghĩa quân phá vòng vây an toàn, khiến đối phương tổn thất nặng nề. Điều khiến em khâm phục nhất ở Hoàng Hoa Thám không chỉ là lòng dũng cảm mà còn là ý chí kiên cường. Suốt gần ba mươi năm, dù gặp vô vàn khó khăn, ông vẫn không khuất phục. Ông trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người dân Yên Thế nói riêng và nhân dân Bắc Giang nói chung. Mỗi lần nghe thầy cô kể về cuộc khởi nghĩa Yên Thế, em lại tưởng tượng hình ảnh người anh hùng đứng giữa núi rừng, ánh mắt kiên nghị, quyết tâm bảo vệ quê hương. Em cảm thấy biết ơn và tự hào vì được sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống anh hùng ấy. Em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với thế hệ cha ông đi trước.

Mở bài:

* Nêu vấn đề đời sống cần bàn: Vai trò của trò chơi điện tử.

* Ý kiến đáng quan tâm về vấn đề đó: "Bản chất của trò chơi điện tử không hề xấu, nó có rất nhiều tác động tích cực đến con người.".

2. Thân bài:

* Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận: Ý kiến này đề cập đến vai trò của tình yêu thương.

* Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:

- Ý 1: Trò chơi điện tử giúp con người giải trí, giảm căng thẳng, stress (lí lẽ, bằng chứng)

- Ý 2: Trò chơi điện tử giúp con người rèn luyện trí tuệ (lí lẽ, bằng chứng)

- Ý 3: Trò chơi điện tử giúp con người mở rộng, gắn kết các mối quan hệ (lí lẽ, bằng chứng)

3. Kết bài: Khẳng định tính xác thực của ý kiến được tán thành và sự cần thiết của việc tán thành ý kiến đó: 

+ Đây là một ý kiến đúng đắn.

+ Ý kiến này giúp chúng ta có thêm cái nhìn sâu sắc về trò chơi điện tử, từ đó biết cách sử dụng trò chơi điện tử đúng đắn.

1. Mở bài:

* Nêu vấn đề đời sống cần bàn: Ý nghĩa của thất bại.

* Ý kiến đáng quan tâm về vấn đề đó: "Thất bại là trải nghiệm bổ ích giúp con người tiến bộ.".

2. Thân bài:

* Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận: Ý kiến này đề cập đến ý nghĩa của thất bại đối với con người.

* Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:

- Ý 1: Có thất bại, con người mới biết trân quý thành công (lí lẽ, bằng chứng)

- Ý 2: Có thất bại, con người mới có thêm bài học kinh nghiệm (lí lẽ, bằng chứng)

- ...

3. Kết bài: Khẳng định tính xác thực của ý kiến được tán thành và sự cần thiết của việc tán thành ý kiến đó: 

+ Đây là một ý kiến đúng đắn.

+ Ý kiến này giúp chúng ta có thêm cái nhìn sâu sắc về sự thất bại, từ đó biết định hướng đúng quan niệm sống của bản thân.

1. Mở bài:

* Nêu vấn đề đời sống cần bàn: Vai trò của tình yêu thương.

* Ý kiến đáng quan tâm về vấn đề đó: "Tình yêu thương là giá trị tinh thần quý báu không thể thiếu của nhân loại.".

2. Thân bài:

* Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận: Ý kiến này đề cập đến vai trò của tình yêu thương.

* Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:

- Ý 1: Tình yêu thương giúp con người vượt qua khó khăn, thêm vững tin vào con người và cuộc đời (lí lẽ, bằng chứng)

- Ý 2: Những người biết sống yêu thương sẽ luôn hạnh phúc (lí lẽ, bằng chứng)

- Ý 3: Tình yêu thương góp phần xây dựng xã hội văn minh, nhân ái (lí lẽ, bằng chứng)

3. Kết bài: Khẳng định tính xác thực của ý kiến được tán thành và sự cần thiết của việc tán thành ý kiến đó: 

+ Đây là một ý kiến đúng đắn.

+ Ý kiến này giúp chúng ta có thêm cái nhìn sâu sắc về tình yêu thương, hun đúc cho bản thân một trái tim biết cảm thông, giúp đỡ mọi người.

Các bước nhập dữ liệu:

- Bước 1: Nháy chuột vào ô muốn nhập.

- Bước 2: Thực hiện việc nhập dữ liệu từ bàn phím (hoặc nháy chuột vào vùng nhập dữ liệu, sau đó mới tiến hành nhập dữ liệu từ bàn phím), nhập xong nhấn phím Enter.