Tạ Mão Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Tạ Mão Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1. nhân vật trữ tình là thúy kiều.

câu 2.

phép đối:lá gió / cành chim (đối hình ảnh, gợi sự qua lại tấp nập của khách làng chơi)

sớm đưa tống ngọc / tối tìm trường khanh (đối tên hai nhân vật điển cố chỉ khách phong lưu)

câu 3. ngắt nhịp 3/3/2 hoặc 3/5 làm nổi bật:

tiếng “giật mình” – sự chua xót, tỉnh ngộ về thân phận

điệp từ “mình” tạo nhấn mạnh nỗi tự thương, tự đau

diễn tả sâu sắc tâm trạng cô đơn, tủi hổ của kiều khi nhìn lại hoàn cảnh trớ trêu.

câu 4.

kiều nhìn cảnh đâu cũng thấy buồn vì chính lòng nàng đang sầu khổ.cảnh vật chỉ là cái nền phản chiếu tâm trạng; tâm trạng u ám thì cảnh vật cũng trở nên nặng nề, mất vui.

câu 5.

kiều tự ý thức về bản thân, biết thương lấy chính mình – điều hiếm thấy trong văn học trung đại vốn thường đề cao đạo lí, bổn phận.

nỗi đau cá nhân được đặt ở vị trí trung tâm, phản ánh cái tôi trữ tình rõ nét.cho thấy tư tưởng nhân đạo mới mẻ của nguyễn du: cảm thương sâu sắc số phận con người, đặc biệt là phụ nữ.

câu 1. văn bản được viết bằng thể thơ lục bát.

câu 2. điển cố: “trâm gãy, bình rơi” – chỉ cái chết của người đẹp, lấy ý từ thơ đường.

câu 3. hai câu thơ dùng từ láy (“sè sè”, “dàu dàu”) và cách tả cảnh ngụ tình. gợi cảnh nấm mồ thấp, cỏ úa buồn bã; tạo không khí hiu hắt, u tịch; làm nổi bật nỗi thương cảm dành cho người bạc mệnh.

câu 4. tác giả dùng nhiều từ láy: sè sè, dàu dàu, lờ mờ, đầm đầm tăng tính gợi hình, gợi cảm; diễn tả không khí buồn thương và làm rõ tâm trạng nhân vật.

câu 5. kiều xót thương, đồng cảm, rơi lệ trước số phận bạc mệnh của đạm tiên. Điều đó cho thấy kiều là người đa sầu đa cảm, nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn, dễ đồng cảm với những thân phận bất hạnh.

Câu 1.Văn bản được viết bằng thể thơ lục bát.

Câu 2.

Điển cố “trâm gãy, bình rơi” – mượn ý từ thơ Đường, dùng để chỉ cái chết của người đẹp.

Câu 3

Hai câu thơ sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm (“sè sè”, “dàu dàu”) và tả cảnh ngụ tình. Gợi hình ảnh nấm mồ nhỏ bé, hoang lạnh, cỏ úa buồn bã; tạo không khí hiu hắt, thương cảm, báo trước số phận mong manh của người bạc mệnh

Câu 4.

Tác giả dùng nhiều từ láy như: sè sè, dàu dàu, lờ mờ, đầm đầm…Giúp diễn tả tinh tế sắc thái cảm xúc, tăng tính gợi hình, gợi buồn, tạo không khí u tịch của cảnh mồ hoang và làm nổi bật nỗi thương cảm.

Câu 5

Kiều xót thương, đồng cảm sâu sắc, rơi lệ trước số phận bạc mệnh của Đạm Tiên

Điều đó cho thấy Kiều là cô gái đa sầu đa cảm, giàu lòng trắc ẩn, thấu hiểu nỗi đau của người khác, có sự đồng điệu đặc biệt với những thân phận bạc mệnh.