Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
→ Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (biến thể – xen lục ngôn).
Câu 2.
→ Các hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến: cây hoè xanh tốt, hoa lựu đỏ rực, sen hồng tỏa hương, ao hồ, chợ cá, tiếng ve,…
Câu 3.
→ Biện pháp đảo ngữ (“Lao xao chợ cá làng ngư phủ”, “Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”) giúp nhấn mạnh âm thanh sinh động của cuộc sống lao động và thiên nhiên, làm cho bức tranh ngày hè thêm sống động, rộn ràng, đầy sức sống.
Câu 4.
→ Trong hai dòng thơ cuối, tác giả bộc lộ tấm lòng yêu nước thương dân, ước mong nhân dân được no đủ, hạnh phúc, thể hiện tư tưởng nhân nghĩa và khát vọng thái bình của Nguyễn Trãi.
Câu 5.
→ Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm vui, tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, và tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi.
→ Căn cứ: qua hình ảnh thiên nhiên rực rỡ, đời sống dân gian yên vui và ước nguyện dân giàu đủ khắp nơi ở hai câu cuối.
Câu 6.
Đoạn văn (5–7 dòng):
Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em học được bài học quý giá về biết trân trọng và tận hưởng những điều bình dị quanh mình. Giữa cuộc sống bận rộn, mỗi người nên giữ cho tâm hồn thanh thản, biết vui với thiên nhiên và những niềm vui nhỏ bé. Khi biết yêu đời, yêu người và sống hòa hợp với tự nhiên, ta sẽ luôn lạc quan, hạnh phúc và giàu năng lượng tích cực. Đó cũng là cách nuôi dưỡng tâm hồn nhân ái và cuộc sống an nhiên.
Khi đọc bản vẽ chi tiết, việc hiểu đúng về tỉ lệ (1:1) là rất quan trọng vì:
- Tỉ lệ 1:1 nghĩa là kích thước bản vẽ bằng đúng kích thước thực tế của chi tiết.
- Khi người đọc biết rõ bản vẽ được vẽ theo tỉ lệ 1:1, họ có thể so sánh trực tiếp bằng mắt hoặc bằng dụng cụ đo với chi tiết thật, tránh nhầm lẫn.
- Hiểu đúng tỉ lệ giúp người chế tạo không lấy kích thước trực tiếp từ hình vẽ mà từ con số kích thước ghi trên bản vẽ. Bởi có nhiều học sinh/ kỹ thuật viên mới thường nhìn hình to nhỏ mà suy ra sai.
Nếu bản vẽ sử dụng tỉ lệ khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình chế tạo là:
- Trường hợp phóng to (ví dụ 2:1, 5:1): Dùng để thể hiện chi tiết rất nhỏ, giúp người đọc dễ quan sát. Nhưng nếu thợ chế tạo không chú ý, có thể lầm tưởng kích thước thật lớn hơn nhiều lần, dẫn đến sai hỏng sản phẩm.
- Trường hợp thu nhỏ (ví dụ 1:2, 1:5): Áp dụng cho chi tiết hoặc kết cấu quá lớn (máy, nhà xưởng...). Nếu không để ý, thợ dễ nhầm tưởng chi tiết bé hơn kích thước thật, gây thiếu vật liệu, sai thông số khi gia công hoặc lắp ráp.
- Tóm lại: Nếu không hiểu đúng tỉ lệ, quá trình chế tạo sẽ gặp sai sót nghiêm trọng về kích thước, gây lãng phí, tốn kém, thậm chí hỏng cả sản phẩm.
Trong quá trình ghi kích thước cho bản vẽ, nếu một cạnh của khối hộp có kích thước nhỏ hơn 1mm, em sẽ làm như sau:
- Ghi bằng đơn vị mm (milimet) với số thập phân.
- Phóng to chi tiết bằng hình hình chiếu riêng hoặc hình trích (hình phóng to một phần), sau đó ghi kích thước nhỏ trên hình phóng to để tránh bị chật, khó nhìn.
- Giữ nguyên tỷ lệ chung của bản vẽ, nhưng khi ghi kích thước nhỏ thì chữ số phải đảm bảo cùng cỡ chữ với các kích thước khác để tránh gây nhầm lẫn.
- Nếu chi tiết nhỏ liên quan đến dung sai cao, cần kèm kí hiệu dung sai (ví dụ: 0,80 ±0,05 mm) để tăng độ chính xác và rõ ràng.