Trương Lê Mai Thùy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: chỉ dẫn sân khấu
Nhìn ra ngay
Đứng bao quát
Bằng những giọng điệu của chèo như nói lệch , vỉa , nói quá giang, đế , điệu con gà rừng , hát sắp, hát ngược ,...
Tay cầm hồ đào, miêng ngậm tăm bông,...
Câu 2: Trong lời xưng danh, Xúy Vân kể về thân phận đang dở , bẽ bàng, cuộc đời lạc lõng , cô đơn và vô nghĩa trong cảnh chồng đi học xa, bị gia đình chồng coi thường .Nàng là người con gái tài hoa , xinh đẹp nhưng lận đận tình duyên, khát khao được hạnh phúc.
Sử dụng lối nói, làn điệu , vũ điệu đa dạng : Đoạn trích sử dụng nhiều giọng điệu khác nhau, để bộc lộ tâm trạng của từng nhân vật.
Tính ước lệ: tượng trưng, tâm trạng của nhân vật được thể hiện qua nhiều hình ảnh
Nhân vật bộc lộ trực tiếp nội tâm: thường nói lên những tâm trạng của bản thân, khỏi g giấu giếm cảm xúc của bản thân.
Câu 3: thể hiện ước mơ giản dị, bình yên về một hạnh phúc gia đình đầm ấn, trọn vẹn.
Câu 4: Cuộc sống của Xúy Vân sống trong gia đình nhà chồng,là cảnh sống cô đơn, buồn tủi, bị ghẻ lạnh và coi thường .
Cáu 5: Do bị kịch của cuộc hôn nhân không tình yêu
Cuộc hôn nhân sắp đặt, thiếu hạnh phúc
Khát vọng với tình yêu
Sự lừa gạt của Trần Phương .
Câu6: Xúy Vân vừa đáng thương nhưng cũng vừa đáng trách:Đáng thương vì là những người phụ nữ sống trong thời phong kiến với những hôm nhan ép buộc , nàng phải chịu cảnh cô đơn, buồn tủi khi chồng vắng nhà và bị lừa gạt.Đáng trách vì nàng đã phụ ơn của Kim nham và tin lời trần phương mà có những hành động sai lầm không đáng có.
Cáu 7: Nàng chủ động chấm dứt hôn nhân, tìm kiếm sự giúp đỡ và chia sẻ, chủ động theo đuổi hạnh phúc .
Câu 1:
Đoạn văn, câu nói về trẻ em và tuổi thơ:
Một đứa bé vào phòng tôi giúp tôi sắp xếp đòi đạc.
Thấy đồng hồ úp mặt xuống bàn nó lật lại hộ. Chén trà đặt sau quai ấm trà nó chuyển đến trước vòi ấm.Đôi giày đặt dưới gầm giường bị ngược, nó đảo lại hướng đôi giày.Dây treo tranh bị buông ra ngoài , nó bắc ghế trèo lên giấu vào bên trong hộ.
Chú khen cháu chăm chỉ, nhưng cháu nói: không đâu, tại thấy chúng như thế , cháu cứ bứt rứt không yên.
Và cháu từng nói: đồng hồ quả quýt úp mặt xuống bàn nó bực bội lắm đấy.
Chén trà ở đâu lưng mẹ, làm sao mà uống sữa được.
Lí do:
Đề cao tấm lòng của trẻ,trong cách nhìn đời và thực hiện nghệ thuật.
Tác giả ngưỡng mộ , cả ngợi sự đồng cảm của trẻ em.
Tác giả muốn quay lại tuổi thơ sống cuộc sống hồn nhiên, hạnh phúc.
Câu 2:
Điểm tương đồng giữa trẻ em và nghệ sĩ là sự đồng cảm.Đều có một tâm hồn trong sáng , ngây thơ.
Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả hình thành trên cơ sở đồng cảm tự nhiên, trân thành của trẻ đối với vạn vật. Trẻ em không chỉ đồng cảm với con người mà còn đồng cảm với sự vật như chó , mèo, hoa cỏ,...
Câu 1:1. Nhà khoa học: Nhìn thấy Đoạn văn so sánh cái nhìn của người họa sĩ với ba người khác (nhà khoa học, bác làm vườn, chú thợ mộc) khi cùng nhìn vào một gốc cây.
Nhà khoa học thấy tính chất và trạng thái của cái cây. Bác làm vườn thấy sức sống của cái cây. Chú thợ mộc thấy chất liệu của cái cây. Cả ba người này đều nhìn cái cây với một mục đích thực tiễn. Ngược lại, người họa sĩ chỉ nhìn thấy dáng vẻ của cái cây, thưởng thức cái đẹp của nó mà không có mục đích nào khác.
1.Tóm tắt câu chuyện vừa kể.
Có một cậu bé đến nhà,thấy những đồ vật trong nhà lộn xộn và không ngăn nắp, nên cậu đã xếp chúng lại gọn gàng.Với sự đồng cảm của cậu bé đối với các đồ vật.Cáu chuyện giúp tác giả nhận ra rằng: Đồ vật cũng có tình cảm và chúng cũng cần sự yêu thương từ chủ nhân của chúng.
2. Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại hoặc cùng lắm là mới động vật mà thôi, còn nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bảo là quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.
3. Có tác dụng làm nổi bật và hiểu rõ hơn về vấn đề cần bàn luận về sự thờ ơ, vô cảm của con người.