Lỗ Thanh Thu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lỗ Thanh Thu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

  C1:  Trong kỷ nguyên số đầy biến động, tính sáng tạo chính là "chìa khóa vàng" giúp thế hệ trẻ khẳng định bản thân và làm chủ tương lai. Sáng tạo không chỉ là tạo ra những cái mới chưa từng có, mà còn là khả năng tìm ra cách giải quyết vấn đề hiệu quả và độc đáo hơn. Đối với người trẻ, tư duy sáng tạo giúp họ phá vỡ những định kiến, lối mòn rập khuôn, từ đó tạo ra những giá trị đột phá trong học tập và công việc. Nó là nguồn động lực để các bạn trẻ dấn thân vào những lĩnh vực mới, biến những ý tưởng táo bạo thành các dự án thực tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Hơn thế nữa, sáng tạo giúp thế hệ trẻ trở nên linh hoạt, dễ dàng thích nghi với những thay đổi chóng mặt của công nghệ và đời sống. Thiếu đi sự sáng tạo, tuổi trẻ dễ rơi vào trạng thái thụ động, máy móc và sớm bị tụt hậu. Vì vậy, mỗi người trẻ cần không ngừng tò mò, học hỏi và rèn luyện tư duy phản biện để nuôi dưỡng ngọn lửa sáng tạo, làm giàu cho chính mình và đất nước

C2: 

Nguyễn Ngọc Tư được mệnh danh là “đặc sản” của văn chương Nam Bộ. Đọc những trang viết của chị, người ta không chỉ thấy hơi thở nồng đậm của sông nước Cửu Long mà còn bắt gặp những mảnh đời trôi nổi, những tâm hồn chất phác và giàu lòng trắc ẩn. Truyện ngắn Biển người mênh mông là một minh chứng tiêu biểu, nơi vẻ đẹp của con người Nam Bộ hiện lên đầy chân thực và cảm động qua hai nhân vật: Phi và ông Sáu Đèo.

Trước hết, nhân vật Phi đại diện cho vẻ đẹp của sự bao dung và lòng vị tha nơi những người con vùng sông nước. Phi có một số phận không mấy may mắn: sinh ra đã không biết cha, mẹ đi bước nữa, rồi phải sống trong sự ghẻ lạnh, nghi ngờ của người cha dượng (ba Phi). Thế nhưng, thay vì oán hận cuộc đời hay trở nên bướng bỉnh, Phi lại chọn cách sống lặng lẽ, nhẫn nhịn và thấu hiểu. Khi bị ngoại rầy về mái tóc “hệt du côn”, anh không cãi nửa lời mà lặng lẽ đi cắt tóc để bà vui. Ngay cả với người mẹ đã bỏ mình lại để đi tìm hạnh phúc mới, hay người cha dượng luôn nhìn mình bằng ánh mắt “lạnh lẽo, chua chát”, Phi cũng không hề oán trách. Sự bao dung của Phi còn lan tỏa sang cả những người xa lạ. Anh sẵn sàng ngồi lắng nghe tâm sự của ông già Sáu Đèo – một người hàng xóm mới quen, đồng cảm với nỗi đau của ông và nhận nuôi con bìm bịp khi ông rời đi. Ở Phi, ta thấy hiện thân của một tâm hồn Nam Bộ dù có vẻ ngoài bụi bặm, “lôi thôi” nhưng bên trong lại là một trái tim nhân hậu, luôn sẵn lòng sẻ chia với những nỗi đau của đồng loại giữa “biển người” mênh mông.

Bên cạnh Phi, hình ảnh ông già Sáu Đèo lại khắc họa một nét tính cách đặc trưng khác của người dân Nam Bộ: sự trọng tình, trọng nghĩa và lòng chung thủy sâu sắc. Cả cuộc đời ông Sáu Đèo là một hành trình đi tìm lại quá khứ, đi tìm người vợ cũ đã bỏ đi từ bốn mươi năm trước. Hành động dời nhà đến ba mươi ba bận, “lội gần rã cặp giò” chỉ để tìm vợ nói một lời xin lỗi đã cho thấy sự chân thành và ăn năn đến tột cùng của ông. Người Nam Bộ vốn hào sảng, đôi khi nóng nảy dẫn đến lỡ lời, nhưng đằng sau đó là tình cảm nồng hậu, không bao giờ phai nhạt theo thời gian. Cách xưng hô thân mật “qua – chú em”, bữa rượu từ giã và niềm tin tuyệt đối khi trao gửi con bìm bịp – người bạn thân thiết nhất của ông – cho Phi đã tô đậm vẻ đẹp chân chất, mộc mạc và tin cậy của con người nơi đây. Ông Sáu Đèo là hình ảnh của những kiếp người phiêu bạt trên sông nước, tuy nghèo khó về vật chất nhưng lại vô cùng giàu có về mặt tình cảm.

Điểm chung của cả Phi và ông Sáu Đèo chính là sự gắn kết giữa những con người cùng khổ. Họ tìm thấy nhau ở sự cô đơn, kết nối với nhau bằng những câu chuyện tâm tình và những lời hỏi han mộc mạc. Qua ngòi bút đậm chất Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, từ ngôn ngữ giản dị đến cách xây dựng tình tiết nhẹ nhàng mà sâu lắng, hình ảnh con người miền Tây hiện lên không hào nhoáng mà vô cùng đẹp đẽ. Đó là những người sống bằng cái “tình”, lấy sự vị tha làm nền tảng và lấy sự chung thủy làm kim chỉ nam cho cuộc sống.

Tóm lại, thông qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi gắm một bức thông điệp nhân văn sâu sắc: Giữa biển người mênh mông và vô định, chỉ có tình yêu thương và sự thấu cảm mới có thể sưởi ấm những tâm hồn đơn độc. Con người Nam Bộ, với tất cả sự chân phương và trọng nghĩa, chính là những bông sen giữa bùn lầy, luôn tỏa hương thơm của lòng nhân ái và sự tử tế.

Câu 1. Xác định kiểu văn bản của ngữ liệu trên.

* Kiểu văn bản: Văn bản thông tin (thuyết minh về một nét văn hóa/địa danh).

Câu 2. Liệt kê một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.

* Phương tiện: Người dân dùng xuồng ba lá, xuồng năm lá, ghe tam bản, tắc ráng để mua bán; len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền mà hiếm khi va quệt.

* Cách rao hàng ("bẹo hàng") bằng mắt: Dùng cây bẹo (sào tre) treo hàng hóa lên cao (khóm, khoai, vú sữa...) để khách nhìn thấy từ xa; treo tấm lá lợp nhà để rao bán chính chiếc ghe đó.

* Cách rao hàng bằng tai: Sử dụng âm thanh lạ tai của các loại kèn (bấm tay hoặc đạp chân).

* Lời rao: Những lời rao ngọt ngào, thiết tha của các cô gái bán đồ ăn thức uống (rao bánh bò, chè đậu đen...).

* Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên.

* Tăng độ tin cậy: Cung cấp thông tin chính xác, cụ thể về những địa điểm có chợ nổi thực tế tại miền Tây.

* Mở rộng không gian: Giới thiệu sự phổ biến và đa dạng của hình thức chợ nổi khắp các tỉnh như Tiền Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau.

* Khơi gợi niềm tự hào: Khẳng định nét đặc trưng văn hóa riêng biệt của vùng sông nước Cửu Long.

*



Câu 4. Nêu tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản trên.

* Các phương tiện phi ngôn ngữ: Cây bẹo (cây sào tre treo hàng hóa), tấm lá lợp nhà, âm thanh của các loại kèn (kèn nhựa, kèn cóc).

* Tác dụng:

* Đối với việc mua bán: Giúp người mua dễ dàng nhận biết mặt hàng từ xa trong không gian sông nước rộng lớn, khắc phục hạn chế về khoảng cách và tiếng ồn của động cơ ghe máy.

* Đối với văn hóa: Tạo nên nét độc đáo, sinh động và thú vị riêng biệt ("đặc sản") của chợ nổi miền Tây so với các loại hình chợ trên đất liền.

* Đối với văn bản: Làm cho thông tin thuyết minh trở nên trực quan, sinh động và hấp dẫn người đọc hơn.

Câu 5. Anh/Chị có suy nghĩ gì về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây?

Bạn có thể trình bày theo các ý chính sau:

* Kinh tế: Là nơi tiêu thụ nông sản, hàng hóa chủ lực, tạo sinh kế và thu nhập ổn định cho hàng nghìn hộ dân vùng sông nước.

* Đời sống sinh hoạt: Thay thế cho chợ truyền thống trên đất liền, đáp ứng nhu cầu ăn uống, mua sắm vật dụng thiết yếu ngay trên sông.

* Văn hóa - Du lịch: Là "linh hồn" của miền Tây, lưu giữ những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc, thu hút du khách trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh con người Việt Nam thân thiện, sáng tạo.

a)  AB⃗=NM⃗𝐴𝐵⃗=𝑁𝑀⃗
  • Do D đối xứng với A qua B nên B là trung điểm AD, suy ra  AB⃗=BD⃗𝐴𝐵⃗=𝐵𝐷⃗ hay  AD⃗=2AB⃗𝐴𝐷⃗=2𝐴𝐵⃗.
  • Do E đối xứng với B qua C nên C là trung điểm BE, suy ra  BC⃗=CE⃗𝐵𝐶⃗=𝐶𝐸⃗ hay  BE⃗=2BC⃗𝐵𝐸⃗=2𝐵𝐶⃗.
  • M là trung điểm BC, N là trung điểm DE.
  • Ta có  NM⃗=NM⃗=NB⃗+BM⃗𝑁𝑀⃗=𝑁𝑀⃗=𝑁𝐵⃗+𝐵𝑀⃗ hoặc dùng trung điểm:  NM⃗=12(ND⃗+NE⃗)𝑁𝑀⃗=12(𝑁𝐷⃗+𝑁𝐸⃗) không đúng, công thức trung điểm là  MN⃗=12(MD⃗+ME⃗)𝑀𝑁⃗=12(𝑀𝐷⃗+𝑀𝐸⃗).
  • Sử dụng quy tắc ba điểm:  NM⃗=NB⃗+BC⃗+CM⃗𝑁𝑀⃗=𝑁𝐵⃗+𝐵𝐶⃗+𝐶𝑀⃗.
  • Xét tứ giác ANMB, ta có thể chứng minh đây là hình bình hành.
  • AN⃗=AC⃗+CN⃗𝐴𝑁⃗=𝐴𝐶⃗+𝐶𝑁⃗.
  • Dễ dàng chứng minh được tứ giác ANMB là hình bình hành (  AN⃗𝐴𝑁⃗ song song và bằng  MB⃗𝑀𝐵⃗ ).
  • Do ANMB là hình bình hành nên  AB⃗=NM⃗𝐴𝐵⃗=𝑁𝑀⃗
b)  MK⃗=NI⃗𝑀𝐾⃗=𝑁𝐼⃗
  • I là trung điểm GA, K là trung điểm GD.
  • Theo quy tắc trung điểm cho đoạn thẳng IK:  IK⃗=12AD⃗𝐼𝐾⃗=12𝐴𝐷⃗.
  • Theo quy tắc trung điểm cho đoạn thẳng NM:  NM⃗=12AE⃗𝑁𝑀⃗=12𝐴𝐸⃗ (không đúng).
  • Từ câu a, ta có  AB⃗=NM⃗𝐴𝐵⃗=𝑁𝑀⃗.
  • Sử dụng tính chất trung điểm, ta có  MK⃗=12(MD⃗+MG⃗)𝑀𝐾⃗=12(𝑀𝐷⃗+𝑀𝐺⃗) và  NI⃗=12(NG⃗+NA⃗)𝑁𝐼⃗=12(𝑁𝐺⃗+𝑁𝐴⃗). Cách này phức tạp.
  • Sử dụng định nghĩa I, K:  NI⃗=NG⃗+GI⃗=NG⃗+12GA⃗𝑁𝐼⃗=𝑁𝐺⃗+𝐺𝐼⃗=𝑁𝐺⃗+12𝐺𝐴⃗.
  • MK⃗=MG⃗+GK⃗=MG⃗+12GD⃗𝑀𝐾⃗=𝑀𝐺⃗+𝐺𝐾⃗=𝑀𝐺⃗+12𝐺𝐷⃗.
  • Do  AB⃗=NM⃗𝐴𝐵⃗=𝑁𝑀⃗ nên tứ giác ANMB là hình bình hành.
  • Có thể chứng minh G là trọng tâm của tam giác ADE hoặc một tính chất đặc biệt nào đó để liên kết các vector.
  • Do I và K là trung điểm GA và GD, ta có  IK⃗=12AD⃗𝐼𝐾⃗=12𝐴𝐷⃗ (đường trung bình trong tam giác GAD).
  • Ta cần chứng minh  MK⃗=NI⃗𝑀𝐾⃗=𝑁𝐼⃗, tức tứ giác MNIK là hình bình hành.
  • MN⃗=AB⃗𝑀𝑁⃗=𝐴𝐵⃗.
  • IK⃗=12AD⃗=12(2AB⃗)=AB⃗𝐼𝐾⃗=12𝐴𝐷⃗=12(2𝐴𝐵⃗)=𝐴𝐵⃗.
  • Suy ra  MN⃗=IK⃗𝑀𝑁⃗=𝐼𝐾⃗. Tứ giác MNIK có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau.
  • Vậy  MK⃗=NI⃗𝑀𝐾⃗=𝑁𝐼⃗
Bước 1: Biểu diễn các vectơ  Vectơ  GA⃗+GB⃗+GC⃗=0⃗𝐺𝐴⃗+𝐺𝐵⃗+𝐺𝐶⃗=0⃗được sử dụng. Vectơ  GA⃗+GE⃗+GF⃗=0⃗𝐺𝐴⃗+𝐺𝐸⃗+𝐺𝐹⃗=0⃗cũng được sử dụng.  Bước 2: Thiết lập phương trình  Hai phương trình vectơ được cộng lại.  (GA⃗+GB⃗+GC⃗)+(GA⃗+GE⃗+GF⃗)=0⃗+0⃗=0⃗𝐺𝐴⃗+𝐺𝐵⃗+𝐺𝐶⃗+𝐺𝐴⃗+𝐺𝐸⃗+𝐺𝐹⃗=0⃗+0⃗=0⃗. Bước 3: Sắp xếp lại phương trình  Phương trình được sắp xếp lại.  (GA⃗+GE⃗)+(GB⃗+GF⃗)+(GC⃗+GA⃗)=0⃗𝐺𝐴⃗+𝐺𝐸⃗+𝐺𝐵⃗+𝐺𝐹⃗+𝐺𝐶⃗+𝐺𝐴⃗=0⃗. Bước 4: Rút gọn phương trình  Phương trình được rút gọn.  AE⃗+BF⃗+CA⃗=0⃗𝐴𝐸⃗+𝐵𝐹⃗+𝐶𝐴⃗=0⃗. Bước 5: Biến đổi phương trình  Phương trình được biến đổi.  AE⃗+BF⃗=−CA⃗=AC⃗𝐴𝐸⃗+𝐵𝐹⃗=−𝐶𝐴⃗=𝐴𝐶⃗. Bước 6: Kết luận  Từ phương trình  AE⃗+BF⃗=AC⃗𝐴𝐸⃗+𝐵𝐹⃗=𝐴𝐶⃗, có thể suy ra  BE⃗=FC⃗𝐵𝐸⃗=𝐹𝐶⃗. Đáp án cuối cùng  BE⃗=FC⃗𝐵𝐸⃗=𝐹𝐶⃗được chứng minh.
Các bước giải 
  1. Chứng minh  BH⟂AC𝐵𝐻⟂𝐴𝐶và  CD⟂AC𝐶𝐷⟂𝐴𝐶.
  2. Chứng minh  CH⟂AB𝐶𝐻⟂𝐴𝐵và  BD⟂AB𝐵𝐷⟂𝐴𝐵.
  3. Từ các kết quả trên, suy ra  BH∥CD𝐵𝐻∥𝐶𝐷và  CH∥BD𝐶𝐻∥𝐵𝐷.
  4. Kết luận tứ giác  BHCD𝐵𝐻𝐶𝐷là hình bình hành. 
  5. Từ đó, suy ra  HB⃗=CD⃗𝐻𝐵⃗=𝐶𝐷⃗.
Lời giải chi tiết  Bước 1: Chứng minh  BH∥CD𝐵𝐻∥𝐶𝐷
  • H𝐻là trực tâm của tam giác  ABC𝐴𝐵𝐶, nên  BH⟂AC𝐵𝐻⟂𝐴𝐶.
  • AD𝐴𝐷là đường kính của đường tròn  (O)(𝑂), nên  ∠ACD=90∘∠𝐴𝐶𝐷=90∘.
  • Do đó,  CD⟂AC𝐶𝐷⟂𝐴𝐶.
  • Vì  BH⟂AC𝐵𝐻⟂𝐴𝐶và  CD⟂AC𝐶𝐷⟂𝐴𝐶, nên  BH∥CD𝐵𝐻∥𝐶𝐷.
Bước 2: Chứng minh  CH∥BD𝐶𝐻∥𝐵𝐷
  • H𝐻là trực tâm của tam giác  ABC𝐴𝐵𝐶, nên  CH⟂AB𝐶𝐻⟂𝐴𝐵.
  • AD𝐴𝐷là đường kính của đường tròn  (O)(𝑂), nên  ∠ABD=90∘∠𝐴𝐵𝐷=90∘.
  • Do đó,  BD⟂AB𝐵𝐷⟂𝐴𝐵.
  • Vì  CH⟂AB𝐶𝐻⟂𝐴𝐵và  BD⟂AB𝐵𝐷⟂𝐴𝐵, nên  CH∥BD𝐶𝐻∥𝐵𝐷.
Bước 3: Kết luận tứ giác  BHCD𝐵𝐻𝐶𝐷là hình bình hành 
  • Tứ giác  BHCD𝐵𝐻𝐶𝐷có các cặp cạnh đối song song, cụ thể là  BH∥CD𝐵𝐻∥𝐶𝐷và  CH∥BD𝐶𝐻∥𝐵𝐷.
  • Do đó, tứ giác  BHCD𝐵𝐻𝐶𝐷là hình bình hành. 
Kết luận 
  • Vì tứ giác  BHCD𝐵𝐻𝐶𝐷là hình bình hành, nên  HB⃗=CD⃗𝐻𝐵⃗=𝐶𝐷⃗.
Để chứng minh  AH⃗=B′C⃗𝐴𝐻⃗=𝐵′𝐶⃗, ta sẽ sử dụng phương pháp vectơ và tính chất của trực tâm và tâm đường tròn ngoại tiếp. Đầu tiên, ta biểu diễn  AH⃗𝐴𝐻⃗ theo  OA⃗,OB⃗,OC⃗𝑂𝐴⃗,𝑂𝐵⃗,𝑂𝐶⃗ và chứng minh  B′C⃗𝐵′𝐶⃗ bằng biểu thức đó.  Các bước chứng minh 
  1. Biểu diễn  AH⃗𝐴𝐻⃗ theo các vectơ gốc:
    • Gọi  A′,B′,C′𝐴′,𝐵′,𝐶′ là các điểm đối xứng của  A,B,C𝐴,𝐵,𝐶 qua  O𝑂.
    • Ta có tính chất:  AH⃗=OA′⃗+OB′⃗+OC′⃗𝐴𝐻⃗=𝑂𝐴′⃗+𝑂𝐵′⃗+𝑂𝐶′⃗ (đây là vectơ liên quan đến trực tâm, cần kiểm tra lại).
    • Một cách khác, dùng tính chất  AH=2OM𝐴𝐻=2𝑂𝑀 và  AH𝐴𝐻 song song với  OM𝑂𝑀. Hoặc ta có thể sử dụng biểu diễn tổng quát  AH⃗=2OMa⃗𝐴𝐻⃗=2𝑂𝑀𝑎⃗ (với  Ma𝑀𝑎 là trung điểm của  BC𝐵𝐶).
    • Thật ra, có một tính chất quen thuộc là  AH⃗=2OM⃗𝐴𝐻⃗=2𝑂𝑀⃗ với  M𝑀 là trung điểm  BC𝐵𝐶.
    • Sử dụng tính chất  OA⃗+OB⃗+OC⃗=OH⃗𝑂𝐴⃗+𝑂𝐵⃗+𝑂𝐶⃗=𝑂𝐻⃗ (với  H𝐻 là trực tâm).
    • Kiểm tra lại:  OH⃗=OA⃗+OB⃗+OC⃗𝑂𝐻⃗=𝑂𝐴⃗+𝑂𝐵⃗+𝑂𝐶⃗ là sai.
    • Ta có biểu thức đúng là  AH⃗=2OM⃗𝐴𝐻⃗=2𝑂𝑀⃗ với  M𝑀 là trung điểm của  BC𝐵𝐶.
    • Và  O𝑂 là trung điểm của  B′𝐵′ và  B𝐵 nên  OB′⃗=−OB⃗𝑂𝐵′⃗=−𝑂𝐵⃗.
    • Trong tam giác  ABC𝐴𝐵𝐶, gọi  M𝑀 là trung điểm của  BC𝐵𝐶. Ta có  AH⃗=2OM⃗𝐴𝐻⃗=2𝑂𝑀⃗.
    • Ta cũng có  OC⃗−OB⃗=BC⃗𝑂𝐶⃗−𝑂𝐵⃗=𝐵𝐶⃗.
  2. Biểu diễn  B′C⃗𝐵′𝐶⃗:
    • Ta có  B′C⃗=OC⃗−OB′⃗𝐵′𝐶⃗=𝑂𝐶⃗−𝑂𝐵′⃗.
    • Vì  O𝑂 là trung điểm của  BB′𝐵𝐵′, nên  OB′⃗=−OB⃗𝑂𝐵′⃗=−𝑂𝐵⃗.
    • Vậy,  B′C⃗=OC⃗−(−OB⃗)=OC⃗+OB⃗𝐵′𝐶⃗=𝑂𝐶⃗−(−𝑂𝐵⃗)=𝑂𝐶⃗+𝑂𝐵⃗.
  3. Chứng minh  AH⃗=B′C⃗𝐴𝐻⃗=𝐵′𝐶⃗:
    • Từ bước 1, ta có  AH⃗=2OM⃗𝐴𝐻⃗=2𝑂𝑀⃗.
    • Từ bước 2, ta có  B′C⃗=OC⃗+OB⃗𝐵′𝐶⃗=𝑂𝐶⃗+𝑂𝐵⃗.
    • Ta cần chứng minh  2OM⃗=OC⃗+OB⃗2𝑂𝑀⃗=𝑂𝐶⃗+𝑂𝐵⃗.
    • Ta biết rằng trong tam giác  ABC𝐴𝐵𝐶 M𝑀 là trung điểm của  BC𝐵𝐶 thì  OM⃗=12(OB⃗+OC⃗)𝑂𝑀⃗=12(𝑂𝐵⃗+𝑂𝐶⃗).
    • Vậy  2OM⃗=2⋅12(OB⃗+OC⃗)=OB⃗+OC⃗2𝑂𝑀⃗=2⋅12(𝑂𝐵⃗+𝑂𝐶⃗)=𝑂𝐵⃗+𝑂𝐶⃗.
    • Do đó,  AH⃗=2OM⃗=OB⃗+OC⃗=B′C⃗𝐴𝐻⃗=2𝑂𝑀⃗=𝑂𝐵⃗+𝑂𝐶⃗=𝐵′𝐶⃗
Kết luận  Từ các bước trên, ta đã chứng minh được  AH⃗=B′C⃗𝐴𝐻⃗=𝐵′𝐶⃗.
  1. Tứ giác  AMCN𝐴𝑀𝐶𝑁là hình bình hành. 
  2. AN𝐴𝑁song song và bằng  MC𝑀𝐶.
  3. N𝑁là trung điểm của  AD𝐴𝐷.
  4. M𝑀là trung điểm của  BC𝐵𝐶.
  5. AD𝐴𝐷song song và bằng  BC𝐵𝐶.
  6. AN=12AD𝐴𝑁=12𝐴𝐷và  MC=12BC𝑀𝐶=12𝐵𝐶.
  7. AN=MC𝐴𝑁=𝑀𝐶.
  8. AN𝐴𝑁song song với  MC𝑀𝐶.
  9. Các cạnh đối của tứ giác  AMCN𝐴𝑀𝐶𝑁song song và bằng nhau. 
  10. AM⃗𝐴𝑀⃗và  NC⃗𝑁𝐶⃗là hai vectơ đối của hình bình hành  AMCN𝐴𝑀𝐶𝑁.
  11. AM⃗=NC⃗𝐴𝑀⃗=𝑁𝐶⃗.
Chứng minh  DK⃗=NI⃗𝐷𝐾⃗=𝑁𝐼⃗
  1. Tứ giác  AMCN𝐴𝑀𝐶𝑁là hình bình hành. 
  2. I𝐼là giao điểm của hai đường chéo  AM𝐴𝑀và  BN𝐵𝑁.
  3. K𝐾là giao điểm của hai đường chéo  DM𝐷𝑀và  CN𝐶𝑁.
  4. I𝐼là trung điểm của  BN𝐵𝑁.
  5. K𝐾là trung điểm của  DM𝐷𝑀.
  6. Tứ giác  DMNB𝐷𝑀𝑁𝐵là hình bình hành. 
  7. DN𝐷𝑁song song và bằng  BM𝐵𝑀.
  8. N𝑁là trung điểm của  AD𝐴𝐷.
  9. M𝑀là trung điểm của  BC𝐵𝐶.
  10. AD𝐴𝐷song song và bằng  BC𝐵𝐶.
  11. DN=12AD𝐷𝑁=12𝐴𝐷và  BM=12BC𝐵𝑀=12𝐵𝐶.
  12. DN=BM𝐷𝑁=𝐵𝑀.
  13. DN𝐷𝑁song song với  BM𝐵𝑀.
  14. Các cạnh đối của tứ giác  DMNB𝐷𝑀𝑁𝐵song song và bằng nhau. 
  15. I𝐼là trung điểm của  BN𝐵𝑁.
  16. K𝐾là trung điểm của  DM𝐷𝑀.
  17. Tứ giác  MINK𝑀𝐼𝑁𝐾là hình bình hành. 
  18. NI⃗𝑁𝐼⃗và  DK⃗𝐷𝐾⃗là hai vectơ đối của hình bình hành  MINK𝑀𝐼𝑁𝐾.
  19. NI⃗=DK⃗𝑁𝐼⃗=𝐷𝐾⃗.
Kết quả cuối cùng  AM⃗=NC⃗𝐴𝑀⃗=𝑁𝐶⃗và  DK⃗=NI⃗𝐷𝐾⃗=𝑁𝐼⃗.
Bước 1: Xác định các vectơ  Vectơ  EF⃗𝐸𝐹⃗được xác định. Vectơ  CD⃗𝐶𝐷⃗được xác định.  Bước 2: Biểu diễn vectơ  EF⃗𝐸𝐹⃗ Theo quy tắc trung điểm,  EF⃗𝐸𝐹⃗là đường trung bình của tam giác  ABC𝐴𝐵𝐶. Vectơ  EF⃗𝐸𝐹⃗được biểu diễn bằng  EF⃗=12CB⃗𝐸𝐹⃗=12𝐶𝐵⃗. Bước 3: Biểu diễn vectơ  CD⃗𝐶𝐷⃗ D𝐷là trung điểm của  BC𝐵𝐶. Vectơ  CD⃗𝐶𝐷⃗được biểu diễn bằng  CD⃗=12CB⃗𝐶𝐷⃗=12𝐶𝐵⃗. Bước 4: So sánh hai vectơ  Từ bước 2 và bước 3,  EF⃗=12CB⃗𝐸𝐹⃗=12𝐶𝐵⃗và  CD⃗=12CB⃗𝐶𝐷⃗=12𝐶𝐵⃗. Do đó,  EF⃗=CD⃗𝐸𝐹⃗=𝐶𝐷⃗. Kết luận  Vectơ  EF⃗𝐸𝐹⃗bằng vectơ  CD⃗𝐶𝐷⃗.
Các vectơ bằng nhau trong hình vuông ABCD tâm O, sử dụng đỉnh và tâm làm điểm đầu/cuối, được nhóm thành các cặp có cùng hướng và độ dài. Các cặp đó là:  (AB⃗,DC⃗)(𝐴𝐵⃗,𝐷𝐶⃗) (BC⃗,AD⃗)(𝐵𝐶⃗,𝐴𝐷⃗) (CD⃗,BA⃗)(𝐶𝐷⃗,𝐵𝐴⃗) (DA⃗,CB⃗)(𝐷𝐴⃗,𝐶𝐵⃗) và các cặp liên quan đến tâm O, chẳng hạn như  (OA⃗,OC⃗)(𝑂𝐴⃗,𝑂𝐶⃗) và  (OB⃗,OD⃗)(𝑂𝐵⃗,𝑂𝐷⃗) là hai cặp vectơ đối nhau, còn  (AO⃗,OC⃗)(𝐴𝑂⃗,𝑂𝐶⃗) và  (BO⃗,OD⃗)(𝐵𝑂⃗,𝑂𝐷⃗) là các vectơ bằng nhau.  Các vectơ bằng nhau 
  • Cặp 1:  AB⃗=DC⃗𝐴𝐵⃗=𝐷𝐶⃗
  • Cặp 2:  BC⃗=AD⃗𝐵𝐶⃗=𝐴𝐷⃗
  • Cặp 3:  CD⃗=BA⃗𝐶𝐷⃗=𝐵𝐴⃗
  • Cặp 4:  DA⃗=CB⃗𝐷𝐴⃗=𝐶𝐵⃗ 
Các vectơ liên quan đến tâm O 
  • Cặp 1:  OA⃗=OC⃗𝑂𝐴⃗=𝑂𝐶⃗ (vectơ đối)
  • Cặp 2:  OB⃗=OD⃗𝑂𝐵⃗=𝑂𝐷⃗ (vectơ đối)
  • Cặp 3:  AO⃗=OC⃗𝐴𝑂⃗=𝑂𝐶⃗ (chúng có hướng và độ dài bằng nhau)
  • Cặp 4:  BO⃗=OD⃗𝐵𝑂⃗=𝑂𝐷⃗ (chúng có hướng và độ dài bằng nhau)
  • Cặp 5:  CO⃗=OA⃗𝐶𝑂⃗=𝑂𝐴⃗ (chúng có hướng và độ dài bằng nhau)
  • Cặp 6:  DO⃗=OB⃗𝐷𝑂⃗=𝑂𝐵⃗ (chúng có hướng và độ dài bằng nhau)