Phạm Thị Kim Ngân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Trong kỷ nguyên số hiện nay, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng mà còn là chìa khóa vàng mở ra cánh cửa thành công cho thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng tư duy khác biệt, tìm ra những giải pháp mới mẻ và hiệu quả cho các vấn đề cũ. Đối với người trẻ, nó giúp chúng ta khẳng định bản sắc cá nhân, phá vỡ những rào cản tư duy lối mòn để thích nghi với sự biến đổi không ngừng của thế giới. Một người trẻ sáng tạo sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong thách thức, biến những ý tưởng táo bạo thành hiện thực, từ đó đóng góp những giá trị tích cực cho cộng đồng và sự phát triển của quốc gia. Ngược lại, nếu thiếu đi sự sáng tạo, chúng ta dễ rơi vào trạng thái thụ động, máy móc và sớm bị tụt hậu. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy phản biện và can đảm thực hiện những ý tưởng mới để làm chủ tương lai của chính mình.
Câu 2:
Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” là đoạn trích trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Đoạn trích kể về việc tía nuôi dắt An đi thăm chú Võ Tòng. Trong cuộc gặp đó Võ Tòng kể cho hai cha con An về việc giết hổ, giết tên địa chủ và hành động Võ Tòng làm mũi tên tẩm độc trao cho ông Hai. Qua hình ảnh nhân vật Võ Tòng, ta cảm nhận rõ hơn những phẩm chất của con người Nam Bộ nơi đó.
Ngay từ nhan đề, “Người đàn ông cô độc giữa rừng gợi cho em suy nghĩ về người đàn ông sống giữa rừng hoang vu hẻo lánh, sống cuộc sống cô độc, lạnh lẽo và hình hài có phần dị dạng. Cũng bởi vì bên trong văn bản, bằng lời kể em có thể hình dung được Võ Tòng hiện lên là người có thân hình vạm vỡ, tóc dài, khuôn vặt chữ điền, có vết sẹo dài từ thái dương xuống cổ; chú có ngước da ngăm đen khỏe mạnh; giọng nói của chú trầm và rõ ràng. Đồng thời em cũng thấy được Võ Tòng là một con người nghĩa hiệp, bản lĩnh và yêu nước.
Đặc điểm tính cách nhân vật Võ Tòng được nhà văn thể hiện trên những phương diện như nơi ở, cách ăn mặc, lời nói (cách tiếp đãi khách), hành động (giết hổ, giết địa chủ, làm mũi tên). Những chi tiết về nhà cửa (lều, cái bếp cà ràng, nồi đất, ngồi bằng gộc cây…), cách ăn mặc (cởi trần, mặc quần kaki mới thắt xanh-tuya-rông, bên hông lủng lẳng lưỡi lê) và tiếp khách (chai rượu vơi và đĩa khô, xưng hô chú em) gợi cho người đọc nhiều ấn tượng về chú Võ Tòng có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc nhiên hơi buồn cười. Cách uống rượu của Võ Tòng trong mắt An: “rót rượu ra bát, uống một ngụm, trao bát sang cho tía nuôi tôi” khiến nhân vật này hiện lên tuy xù xì, chất phác nhưng lại uống rượu từ tốn, có chút thận trọng nhưng cũng hết sức gần gũi. Lời nói của Võ Tòng với tía nuôi “tôi” là sự so sánh giữa con dao găm, cánh nỏ với cái súng của bọn giặc. Võ Tòng cho rằng súng dở lắm, kêu ầm ĩ và cầm súng là nhát gan vì ở xa cũng bắn được mà. Còn cầm dao và nỏ thì tách một tiếng không ai hay biết. Qua đây người đọc thấy được khí phách kiên cường, bản lĩnh gan dạ dũng cảm của nhân vật Võ Tòng.Qua văn bản, em hiểu thêm về con người của vùng đất phương Nam, họ chất phác với những nét sắc sảo lạ lùng: ông Hai và Võ Tòng đều không có đất, quanh năm ở đợ, làm thuê cho địa chủ, bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ, họ đã đánh trả và bị tù, chỗ khác nhau là ông Hai bắt rắn đã trốn tù, đón vợ rồi bỏ vào rừng U Minh. Một con thuyền nhỏ, hai vợ chồng, thằng con trai và con chó Luốc đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: câu rắn, lấy mật, săn cá sấu…còn Võ Tòng một thân một mình trốn vào sâu trong rừng U Minh….
Đặc biệt, chi tiết Võ Tòng giết hổ để lại ấn tượng mạnh bởi đây là một hình ảnh đẹp; hình ảnh đó cho thấy sức mạnh phi thường của con người, con người đủ khả năng chống trọi lại mọi khó khan khắc nghiệt của tự nhiên để bảo vệ bản thân. Đồng thời hình ảnh đó cũng cho em thấy được tinh thần tự vệ cao của con người Việt Nam.
Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” thể hiện rõ nét những nét đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ vừa chân thật, khẳng khái nhưng hết sức tình cảm và hồn hậu. Điều đó được thể hiện rõ nét qua nhân vật Võ Tòng.
Câu 1:
Trong kỷ nguyên số hiện nay, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng mà còn là chìa khóa vàng mở ra cánh cửa thành công cho thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng tư duy khác biệt, tìm ra những giải pháp mới mẻ và hiệu quả cho các vấn đề cũ. Đối với người trẻ, nó giúp chúng ta khẳng định bản sắc cá nhân, phá vỡ những rào cản tư duy lối mòn để thích nghi với sự biến đổi không ngừng của thế giới. Một người trẻ sáng tạo sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong thách thức, biến những ý tưởng táo bạo thành hiện thực, từ đó đóng góp những giá trị tích cực cho cộng đồng và sự phát triển của quốc gia. Ngược lại, nếu thiếu đi sự sáng tạo, chúng ta dễ rơi vào trạng thái thụ động, máy móc và sớm bị tụt hậu. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy phản biện và can đảm thực hiện những ý tưởng mới để làm chủ tương lai của chính mình.
Câu 2:
Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” là đoạn trích trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Đoạn trích kể về việc tía nuôi dắt An đi thăm chú Võ Tòng. Trong cuộc gặp đó Võ Tòng kể cho hai cha con An về việc giết hổ, giết tên địa chủ và hành động Võ Tòng làm mũi tên tẩm độc trao cho ông Hai. Qua hình ảnh nhân vật Võ Tòng, ta cảm nhận rõ hơn những phẩm chất của con người Nam Bộ nơi đó.
Ngay từ nhan đề, “Người đàn ông cô độc giữa rừng gợi cho em suy nghĩ về người đàn ông sống giữa rừng hoang vu hẻo lánh, sống cuộc sống cô độc, lạnh lẽo và hình hài có phần dị dạng. Cũng bởi vì bên trong văn bản, bằng lời kể em có thể hình dung được Võ Tòng hiện lên là người có thân hình vạm vỡ, tóc dài, khuôn vặt chữ điền, có vết sẹo dài từ thái dương xuống cổ; chú có ngước da ngăm đen khỏe mạnh; giọng nói của chú trầm và rõ ràng. Đồng thời em cũng thấy được Võ Tòng là một con người nghĩa hiệp, bản lĩnh và yêu nước.
Đặc điểm tính cách nhân vật Võ Tòng được nhà văn thể hiện trên những phương diện như nơi ở, cách ăn mặc, lời nói (cách tiếp đãi khách), hành động (giết hổ, giết địa chủ, làm mũi tên). Những chi tiết về nhà cửa (lều, cái bếp cà ràng, nồi đất, ngồi bằng gộc cây…), cách ăn mặc (cởi trần, mặc quần kaki mới thắt xanh-tuya-rông, bên hông lủng lẳng lưỡi lê) và tiếp khách (chai rượu vơi và đĩa khô, xưng hô chú em) gợi cho người đọc nhiều ấn tượng về chú Võ Tòng có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc nhiên hơi buồn cười. Cách uống rượu của Võ Tòng trong mắt An: “rót rượu ra bát, uống một ngụm, trao bát sang cho tía nuôi tôi” khiến nhân vật này hiện lên tuy xù xì, chất phác nhưng lại uống rượu từ tốn, có chút thận trọng nhưng cũng hết sức gần gũi. Lời nói của Võ Tòng với tía nuôi “tôi” là sự so sánh giữa con dao găm, cánh nỏ với cái súng của bọn giặc. Võ Tòng cho rằng súng dở lắm, kêu ầm ĩ và cầm súng là nhát gan vì ở xa cũng bắn được mà. Còn cầm dao và nỏ thì tách một tiếng không ai hay biết. Qua đây người đọc thấy được khí phách kiên cường, bản lĩnh gan dạ dũng cảm của nhân vật Võ Tòng.Qua văn bản, em hiểu thêm về con người của vùng đất phương Nam, họ chất phác với những nét sắc sảo lạ lùng: ông Hai và Võ Tòng đều không có đất, quanh năm ở đợ, làm thuê cho địa chủ, bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ, họ đã đánh trả và bị tù, chỗ khác nhau là ông Hai bắt rắn đã trốn tù, đón vợ rồi bỏ vào rừng U Minh. Một con thuyền nhỏ, hai vợ chồng, thằng con trai và con chó Luốc đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: câu rắn, lấy mật, săn cá sấu…còn Võ Tòng một thân một mình trốn vào sâu trong rừng U Minh….
Đặc biệt, chi tiết Võ Tòng giết hổ để lại ấn tượng mạnh bởi đây là một hình ảnh đẹp; hình ảnh đó cho thấy sức mạnh phi thường của con người, con người đủ khả năng chống trọi lại mọi khó khan khắc nghiệt của tự nhiên để bảo vệ bản thân. Đồng thời hình ảnh đó cũng cho em thấy được tinh thần tự vệ cao của con người Việt Nam.
Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” thể hiện rõ nét những nét đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ vừa chân thật, khẳng khái nhưng hết sức tình cảm và hồn hậu. Điều đó được thể hiện rõ nét qua nhân vật Võ Tòng.
Câu 1: Trong kỷ nguyên số hiện nay, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng mà còn là chìa khóa vàng mở ra cánh cửa thành công cho thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng tư duy khác biệt, tìm ra những giải pháp mới mẻ và hiệu quả cho các vấn đề cũ. Đối với người trẻ, nó giúp chúng ta khẳng định bản sắc cá nhân, phá vỡ những rào cản tư duy lối mòn để thích nghi với sự biến đổi không ngừng của thế giới. Một người trẻ sáng tạo sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong thách thức, biến những ý tưởng táo bạo thành hiện thực, từ đó đóng góp những giá trị tích cực cho cộng đồng và sự phát triển của quốc gia. Ngược lại, nếu thiếu đi sự sáng tạo, chúng ta dễ rơi vào trạng thái thụ động, máy móc và sớm bị tụt hậu. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy phản biện và can đảm thực hiện những ý tưởng mới để làm chủ tương lai của chính mình.
Câu 2:
Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” là đoạn trích trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Đoạn trích kể về việc tía nuôi dắt An đi thăm chú Võ Tòng. Trong cuộc gặp đó Võ Tòng kể cho hai cha con An về việc giết hổ, giết tên địa chủ và hành động Võ Tòng làm mũi tên tẩm độc trao cho ông Hai. Qua hình ảnh nhân vật Võ Tòng, ta cảm nhận rõ hơn những phẩm chất của con người Nam Bộ nơi đó. Ngay từ nhan đề, “Người đàn ông cô độc giữa rừng gợi cho em suy nghĩ về người đàn ông sống giữa rừng hoang vu hẻo lánh, sống cuộc sống cô độc, lạnh lẽo và hình hài có phần dị dạng. Cũng bởi vì bên trong văn bản, bằng lời kể em có thể hình dung được Võ Tòng hiện lên là người có thân hình vạm vỡ, tóc dài, khuôn vặt chữ điền, có vết sẹo dài từ thái dương xuống cổ; chú có ngước da ngăm đen khỏe mạnh; giọng nói của chú trầm và rõ ràng. Đồng thời em cũng thấy được Võ Tòng là một con người nghĩa hiệp, bản lĩnh và yêu nước. Đặc điểm tính cách nhân vật Võ Tòng được nhà văn thể hiện trên những phương diện như nơi ở, cách ăn mặc, lời nói (cách tiếp đãi khách), hành động (giết hổ, giết địa chủ, làm mũi tên). Những chi tiết về nhà cửa (lều, cái bếp cà ràng, nồi đất, ngồi bằng gộc cây…), cách ăn mặc (cởi trần, mặc quần kaki mới thắt xanh-tuya-rông, bên hông lủng lẳng lưỡi lê) và tiếp khách (chai rượu vơi và đĩa khô, xưng hô chú em) gợi cho người đọc nhiều ấn tượng về chú Võ Tòng có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc nhiên hơi buồn cười. Cách uống rượu của Võ Tòng trong mắt An: “rót rượu ra bát, uống một ngụm, trao bát sang cho tía nuôi tôi” khiến nhân vật này hiện lên tuy xù xì, chất phác nhưng lại uống rượu từ tốn, có chút thận trọng nhưng cũng hết sức gần gũi. Lời nói của Võ Tòng với tía nuôi “tôi” là sự so sánh giữa con dao găm, cánh nỏ với cái súng của bọn giặc. Võ Tòng cho rằng súng dở lắm, kêu ầm ĩ và cầm súng là nhát gan vì ở xa cũng bắn được mà. Còn cầm dao và nỏ thì tách một tiếng không ai hay biết. Qua đây người đọc thấy được khí phách kiên cường, bản lĩnh gan dạ dũng cảm của nhân vật Võ Tòng.Qua văn bản, em hiểu thêm về con người của vùng đất phương Nam, họ chất phác với những nét sắc sảo lạ lùng: ông Hai và Võ Tòng đều không có đất, quanh năm ở đợ, làm thuê cho địa chủ, bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ, họ đã đánh trả và bị tù, chỗ khác nhau là ông Hai bắt rắn đã trốn tù, đón vợ rồi bỏ vào rừng U Minh. Một con thuyền nhỏ, hai vợ chồng, thằng con trai và con chó Luốc đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: câu rắn, lấy mật, săn cá sấu…còn Võ Tòng một thân một mình trốn vào sâu trong rừng U Minh…. Đặc biệt, chi tiết Võ Tòng giết hổ để lại ấn tượng mạnh bởi đây là một hình ảnh đẹp; hình ảnh đó cho thấy sức mạnh phi thường của con người, con người đủ khả năng chống trọi lại mọi khó khan khắc nghiệt của tự nhiên để bảo vệ bản thân. Đồng thời hình ảnh đó cũng cho em thấy được tinh thần tự vệ cao của con người Việt Nam. Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” thể hiện rõ nét những nét đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ vừa chân thật, khẳng khái nhưng hết sức tình cảm và hồn hậu. Điều đó được thể hiện rõ nét qua nhân vật Võ Tòng.
Câu 1: Trong kỷ nguyên số hiện nay, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng mà còn là chìa khóa vàng mở ra cánh cửa thành công cho thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng tư duy khác biệt, tìm ra những giải pháp mới mẻ và hiệu quả cho các vấn đề cũ. Đối với người trẻ, nó giúp chúng ta khẳng định bản sắc cá nhân, phá vỡ những rào cản tư duy lối mòn để thích nghi với sự biến đổi không ngừng của thế giới. Một người trẻ sáng tạo sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong thách thức, biến những ý tưởng táo bạo thành hiện thực, từ đó đóng góp những giá trị tích cực cho cộng đồng và sự phát triển của quốc gia. Ngược lại, nếu thiếu đi sự sáng tạo, chúng ta dễ rơi vào trạng thái thụ động, máy móc và sớm bị tụt hậu. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy phản biện và can đảm thực hiện những ý tưởng mới để làm chủ tương lai của chính mình.
Câu 2:
Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” là đoạn trích trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi rất thành công và nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, tái bản nhiều lần, được dựng thành phim và in trong Tủ Sách Vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Đoạn trích kể về việc tía nuôi dắt An đi thăm chú Võ Tòng. Trong cuộc gặp đó Võ Tòng kể cho hai cha con An về việc giết hổ, giết tên địa chủ và hành động Võ Tòng làm mũi tên tẩm độc trao cho ông Hai. Qua hình ảnh nhân vật Võ Tòng, ta cảm nhận rõ hơn những phẩm chất của con người Nam Bộ nơi đó. Ngay từ nhan đề, “Người đàn ông cô độc giữa rừng gợi cho em suy nghĩ về người đàn ông sống giữa rừng hoang vu hẻo lánh, sống cuộc sống cô độc, lạnh lẽo và hình hài có phần dị dạng. Cũng bởi vì bên trong văn bản, bằng lời kể em có thể hình dung được Võ Tòng hiện lên là người có thân hình vạm vỡ, tóc dài, khuôn vặt chữ điền, có vết sẹo dài từ thái dương xuống cổ; chú có ngước da ngăm đen khỏe mạnh; giọng nói của chú trầm và rõ ràng. Đồng thời em cũng thấy được Võ Tòng là một con người nghĩa hiệp, bản lĩnh và yêu nước. Đặc điểm tính cách nhân vật Võ Tòng được nhà văn thể hiện trên những phương diện như nơi ở, cách ăn mặc, lời nói (cách tiếp đãi khách), hành động (giết hổ, giết địa chủ, làm mũi tên). Những chi tiết về nhà cửa (lều, cái bếp cà ràng, nồi đất, ngồi bằng gộc cây…), cách ăn mặc (cởi trần, mặc quần kaki mới thắt xanh-tuya-rông, bên hông lủng lẳng lưỡi lê) và tiếp khách (chai rượu vơi và đĩa khô, xưng hô chú em) gợi cho người đọc nhiều ấn tượng về chú Võ Tòng có đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc nhiên hơi buồn cười. Cách uống rượu của Võ Tòng trong mắt An: “rót rượu ra bát, uống một ngụm, trao bát sang cho tía nuôi tôi” khiến nhân vật này hiện lên tuy xù xì, chất phác nhưng lại uống rượu từ tốn, có chút thận trọng nhưng cũng hết sức gần gũi. Lời nói của Võ Tòng với tía nuôi “tôi” là sự so sánh giữa con dao găm, cánh nỏ với cái súng của bọn giặc. Võ Tòng cho rằng súng dở lắm, kêu ầm ĩ và cầm súng là nhát gan vì ở xa cũng bắn được mà. Còn cầm dao và nỏ thì tách một tiếng không ai hay biết. Qua đây người đọc thấy được khí phách kiên cường, bản lĩnh gan dạ dũng cảm của nhân vật Võ Tòng.Qua văn bản, em hiểu thêm về con người của vùng đất phương Nam, họ chất phác với những nét sắc sảo lạ lùng: ông Hai và Võ Tòng đều không có đất, quanh năm ở đợ, làm thuê cho địa chủ, bị chúng cướp công, cướp người yêu, cướp vợ, họ đã đánh trả và bị tù, chỗ khác nhau là ông Hai bắt rắn đã trốn tù, đón vợ rồi bỏ vào rừng U Minh. Một con thuyền nhỏ, hai vợ chồng, thằng con trai và con chó Luốc đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ nghề: câu rắn, lấy mật, săn cá sấu…còn Võ Tòng một thân một mình trốn vào sâu trong rừng U Minh…. Đặc biệt, chi tiết Võ Tòng giết hổ để lại ấn tượng mạnh bởi đây là một hình ảnh đẹp; hình ảnh đó cho thấy sức mạnh phi thường của con người, con người đủ khả năng chống trọi lại mọi khó khan khắc nghiệt của tự nhiên để bảo vệ bản thân. Đồng thời hình ảnh đó cũng cho em thấy được tinh thần tự vệ cao của con người Việt Nam. Văn bản “Người đàn ông cô độc giữa rừng” thể hiện rõ nét những nét đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ vừa chân thật, khẳng khái nhưng hết sức tình cảm và hồn hậu. Điều đó được thể hiện rõ nét qua nhân vật Võ Tòng.
Câu 1. Kiểu văn bản: Văn bản thông tin Mục đích: Cung cấp tri thức về nét văn hóa, cách thức giao thương đặc trưng của chợ nổi miền Tây. Câu 2.
Hình ảnh, chi tiết giao thương thú vị Hình ảnh "bẹo hàng": Treo món hàng cần bán lên một cây sào (cây bẹo) để người mua từ xa có thể nhận biết. Âm thanh lạ tai: Sử dụng các loại kèn bấm tay, kèn đạp chân để thu hút sự chú ý của khách. + Lời rao ngọt ngào: Tiếng rao mời mọc thiết tha, lảnh lót của các cô gái bán đồ ăn thức uống: "Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn…?", "Ai ăn bánh bò hôn…?". + Giao dịch trên sông: Việc mua bán diễn ra ngay trên xuồng, ghe tấp nập giữa sóng nước. Câu 3.
Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh: + Tạo tính xác thực: Giúp người đọc xác định rõ không gian địa lý cụ thể của vùng sông nước Cửu Long. + Gợi nhắc văn hóa: Các địa danh (như Cần Thơ, Tiền Giang,...) gắn liền với bản sắc và lịch sử hình thành của các khu chợ nổi nổi tiếng. + Tăng độ tin cậy: Khẳng định đây là những thông tin thực tế, có nguồn gốc rõ ràng. Câu 4.
Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ ‐ Trong văn bản, các phương tiện phi ngôn ngữ như hình ảnh cây bẹo, tiếng kèn, hay các hình ảnh minh họa (nếu có trong bài gốc) có tác dụng: + Bổ trợ cho ngôn ngữ: Giúp người đọc dễ dàng hình dung cụ thể, sinh động về các hoạt động diễn ra tại chợ nổi. Tạo sự hấp dẫn: Làm cho văn bản thông tin bớt khô khan, thu hút người đọc hơn. + Thể hiện nét đặc trưng: Phản ánh tư duy sáng tạo và lối sống thích nghi với điều kiện sông nước của người dân. Câu 5.
- Suy nghĩ về vai trò của chợ nổi đối với đời sống người dân miền Tây + Kinh tế: Là nơi tiêu thụ nông sản, hàng hóa, tạo kế sinh nhai và nguồn thu nhập chính cho hàng ngàn hộ gia đình vùng sông nước. + Văn hóa: Là "bảo tàng sống" lưu giữ phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói và tâm hồn đôn hậu, phóng khoáng của người dân Nam Bộ. + Du lịch: Trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc, thu hút du khách trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh vùng đất chín rồng. + Tinh thần: Là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi kết nối tình làng nghĩa xóm giữa những con người cùng lênh đênh trên sóng nước.
Câu 1:
Nhân vật Bê-li-cốp trong truyện ngắn "Người trong bao" của Sê-khốp là một hình tượng điển hình cho lối sống thu mình, bạc nhược của một bộ phận trí thức Nga cuối thế kỷ XIX. Ngoại hình và thói quen của hắn luôn gắn liền với những chiếc "bao": từ bộ quần áo, chiếc ô, đồng hồ cho đến cả suy nghĩ đều phải được bọc kín. Bê-li-cốp sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ về thực tại, luôn tôn thờ quá khứ và những quy định, thông tư một cách máy móc. Câu nói cửa miệng "Nhỡ lại xảy ra chuyện gì thì sao" đã bộc lộ bản chất hèn nhát, cô độc và khao khát được an toàn tuyệt đối trong cái vỏ ốc tự tạo. Sự tồn tại của Bê-li-cốp không chỉ làm khổ chính hắn mà còn gây ra bầu không khí ngột ngạt, sợ hãi cho cả thành phố suốt 15 năm. Qua nhân vật này, Sê-khốp đã phê phán gay gắt lối sống "trong bao" và cảnh báo về sự tha hóa của con người khi từ chối đối mặt với cuộc sống thực tại.
Câu 2:
Sê-khốp được mệnh danh là con linh điểu của buổi tịch dương trên đồng cỏ dại nước Nga xưa, là văn hào chói sáng lên lâu đài nhân đạo. Chính tấm lòng của một nhà văn chân chính và những tác phẩm văn học giá trị phản ánh chân thực cảm động số phận người dân và đất nước Nga đã chinh phục được trái tim của độc giả trên khắp mọi nơi, trong số ấy, “Người trong bao” là một trong số những truyện ngắn đặc sắc làm nên tên tuổi của ông.
Nhân vật chính trong truyện là Bê-li-cốp, hắn là một giáo viên dạy tiếng Hy Lạp, sống rất kì lạ, luôn luôn sợ hãi mọi thứ xảy ra xung quanh mình. Hắn sợ những thử thách cuộc đời, sợ nắng mưa gió tuyết. sợ bị mất cắp và bị thất lạc nên luôn giấu tất cả đồ đạc của mình vào trong chiếc bao. Hắn mặc chiếc áo bành tô to che gần hết khuôn mặt, tai nhét bông điều ấy chứng tỏ hắn sợ phải nghe thấy âm thanh xung quanh, sợ bị nhìn thấy. Không chỉ thế hắn còn sợ giao tiếp, khi đến nhà ai chỉ ngồi 15 phút không nói gì rồi ra về chứng tỏ hắn sợ cô độc ấy vậy mà hắn lại sợ phải giao tiếp và không muốn chịu trách nhiệm với lời nói, và hành động của mình. Trong tình yêu hắn cũng muốn cầm tù tình yêu của mình, hắn sợ cái mới vì chỉ vì nhìn thấy Va-ren-ca đi xe đạp mà sợ hãi, giật mình và hoảng hốt đến tận nhà để nhắc nhở. Điều ấy chứng tỏ hắn sợ mọi thứ đến cả những điều không hề đáng sợ, hắn chỉ nô lệ vào cái cũ, không dám thay đổi, như thế hắn đã chết ngay cả khi đang sống, từng giờ, từng phút trong chiếc bao sợ hãi hắn đang tự tạo ra và bị bầu không khí ngột ngạt của xã hội Nga Hoàng đẩy vào. Để qua hình tượng điển hình ấy, Bê-li-cốp phản ánh chân thực đến bộ mặt xã hội Nga lúc bấy giờ, người dân phải sống trong nỗi sợ và sự cưỡng chế nặng nề đến ngạt thở, qua đó khát khao muốn thay đổi và hướng đến một thế giới tốt đẹp hơn, không bị cầm tù và giam hãm trong chiếc bao nào cả. Ngôn ngữ của truyện chân thực, chính xác, giàu tính thời sự điểm trúng được những diễn biến tâm lí tinh vi và phức tạp của nhân vật. kết cấu truyện lồng trong truyện giúp câu chuyện trở nên phức tạp, hấp dẫn và lôi cuốn đầy kịch tính, đồng thời thấy được tài năng của tác giả. Khẳng định được tài năng bậc thầy của cây bút xuất sắc trên mảng truyện ngắn.
Qua sự sáng tạo và xây dựng những tình huống, chi tiết và hình tượng điển hình ở tác phẩm Người Trong bao, nhà văn Nga vĩ đại Sê-khốp đã gửi gắm đến chúng ta hình ảnh người dân Nga phải sống trong chế độ Nga Hoàng nặng nề trì trệ như thế nào; đồng thời bày tỏ niềm xót thương, đồng cảm và lời kêu gọi đổi thay của tác giả. Chính những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc ấy đã giúp tác phẩm sống mãi trong lòng độc giả.
Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính được sửdụng trong bài là: Tự sự. Câu 2 : Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp. Câu 3 : Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất. Tác dụng: + Tăng tính chân thực, khách quan: Người kể là nhân vật trực tiếp chứng kiến và sống cùng Bê-li-cốp nên câu chuyện có độ tin cậy cao. + Thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của người kể (vừa châm biếm, vừa phê phán, vừa ngán ngẩm). + Góp phần làm nổi bật bầu không khíngột ngạt, sợ hãi bao trùm cả trường học và thành phố. Câu 4 : Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp: + Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ẩm cốt bông.Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; vàkhi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên.Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.
Nhan đề đoạn trích được đặt là Người trong bao vì: + Tất cả những đồ vật của Bê-li-cốp đều được đặt trong những cái bao kín. + Ngay cả chính bản thân B ê-li-cốp cũng tự ẩn mình vào trong những cái "bao”, cắt đi mọi giao cảm với đời. + Chiếc bao là ẩn dụ cho việc không dám bước ra khỏi vòng an toàn của mình. Câu 5 (1.0 điểm): Bài học rút ra từ đoạn trích: Phải sống dũng cảm, hết mình, dám chấp nhận tổn thương. Vì: Nếu cứ giấu mình, chúng ta sẽ không bao giờ có thể phát triển, và rộng ra, cả xã hội sẽ bị chậ
Vì: Nếu cứ giấu mình, chúng ta sẽ không bao giờ có thể phát triển, và rộng ra, cả xã hội sẽ bị chậm lại theo.m lại theo.
- Con người trong bài thơ hiện qua những hình ảnh: cô thôn nữ, tiếng ca vắt vẻo, ai ngồi dưới trúc, khách xa, chị ấy - Tâm trạng của nhân vật chữ tình:nỗi nhớ làng quê da diết, niềm trân trọng cái đẹp và nuối tiếc khi không thể giữ cái đẹp tồn tại vĩnh hằng.
Những từ ngữ hình ảnh thể hiện trạng thái "chín" của mùa xuân trong bài thơ là:
+ Làn nắng ửng
+ Khói mờ tan
+ Lấm tấm vàng
+ Bóng xuân sang
+ Sóng cỏ xanh tươi
+ Mùa xuân chín
-> Cảnh thiên nhiên thôn quê mùa xuân rất bình yên, căng tràn sức sống, dân dã, gần gũi
Những từ ngữ hình ảnh thể hiện trạng thái "chín" của mùa xuân trong bài thơ là:
+ Làn nắng ửng
+ Khói mờ tan
+ Lấm tấm vàng
+ Bóng xuân sang
+ Sóng cỏ xanh tươi
+ Mùa xuân chín
-> Cảnh thiên nhiên thôn quê mùa xuân rất bình yên, căng tràn sức sống, dân dã, gần gũi