Đàm Thị Thu Mến
Giới thiệu về bản thân
thơ "Chiều đồng nội" của Nguyễn Lãm Thắng là một bức tranh thiên nhiên làng quê giản dị, gần gũi, được điểm xuyết bằng những hình ảnh thân thuộc, quen thuộc của tuổi thơ. Với ngôn từ trong sáng, giàu nhạc điệu, bài thơ không chỉ vẽ nên một khung cảnh mà còn gợi lên biết bao cảm xúc êm đềm, sâu lắng về một miền ký ức tươi đẹp. Mở đầu bài thơ là cảnh "những con cừu ăn no", "chậm rãi trở về", gợi lên một nhịp sống yên bình, khoan thai nơi đồng quê. Hình ảnh những chú cừu béo tròn, thong dong đi lại sau một ngày no đủ đã khiến cho bức tranh thêm phần thanh bình, no ấm. Tiếp đến, hình ảnh "con trâu thủng thẳng, vẫy đuôi" hay "chiếc xe bò kéo kẽo kẹt" lại càng tô đậm thêm cái chất mộc mạc, đậm màu thôn dã của buổi chiều tà. Tất cả những hình ảnh ấy, dường như đã trở thành một phần không thể thiếu của miền ký ức tuổi thơ, nơi có những cánh đồng bao la, những con đường đất đỏ và những âm thanh quen thuộc của làng quê. Bài thơ còn gây ấn tượng bởi sự đan xen giữa cảnh và tình. Nguyễn Lãm Thắng không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn lồng ghép vào đó những cảm xúc tinh tế của con người. Hình ảnh "đứa trẻ ngồi gác cổng", "tay đan rơm vàng", "chờ bố về" thể hiện sự ngóng trông, nỗi nhớ mong của người con dành cho cha mình. Cảm xúc ấy, dù giản dị nhưng đã làm rung động biết bao trái tim của những người con xa quê. Nhà thơ sử dụng những ngôn từ quen thuộc, gần gũi nhưng lại giàu tính gợi hình, gợi cảm. Cách sử dụng từ láy, động từ mạnh mẽ đã khiến cho bức tranh chiều đồng nội trở nên sống động và chân thực hơn bao giờ hết. Sự kết hợp hài hòa giữa các hình ảnh và cảm xúc đã làm cho bài thơ trở nên ý nghĩa và mang đến những cảm nhận sâu sắc cho người đọc. Kết lại, bài thơ "Chiều đồng nội" của Nguyễn Lãm Thắng đã để lại trong lòng độc giả một ấn tượng khó phai. Qua những hình ảnh mộc mạc, giản dị, bài thơ đã gợi nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp, về một miền quê yên bình, êm đềm. Đồng thời, bài thơ cũng là lời nhắn nhủ, thức tỉnh những tâm hồn đã quá lâu sống trong cuộc sống vội vã, hối hả, để mỗi người có thể sống chậm lại, trân trọng những giá trị giản dị và tốt đẹp trong cuộc sống.
Khi đọc bài thơ "Chiều đồng nội" của Nguyễn Lãm Thắng, em chợt nhớ về những buổi chiều cùng đám bạn trong xóm rủ nhau trèo hái chùm khế ngọt trước nhà. Kỉ niệm giản dị nhưng ấm áp ấy khiến em hiểu ra rằng, quê hương không phải là điều gì quá xa vời mà ẩn chứa trong những hình ảnh thân thuộc, bình dị nhất của tuổi thơ như chùm khế, con đường làng hay con đò nhỏ. Những hình ảnh ấy đã bồi đắp trong em một tình yêu sâu sắc, vô điều kiện với nơi chôn rau cắt rốn của mình. Từ đó, em càng thấu hiểu hơn thông điệp tác giả muốn truyền tải: hãy trân trọng và yêu thương những điều bình dị tạo nên quê hương, bởi đó là cội nguồn của mỗi chúng ta.
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh. Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.
Bài thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ "tiếng hạt nảy mầm" để nói về quá trình gieo mầm tri thức và tình yêu thương, giúp các em học sinh đặc biệt có thể cảm nhận và lớn lên. Tuy không thể nghe thấy bằng tai, nhưng nhờ sự dạy dỗ của cô, các em vẫn cảm nhận được "tiếng cuộc đời sâu vợi" qua các hình ảnh "con tàu biển buông neo", "ngôi sao mọc rừng chiều", "vó ngựa ran vách đá". Điều này cho thấy kiến thức đã mở ra một thế giới rộng lớn, đầy màu sắc cho các em.
Trong hai câu thơ sau " Cánh sẻ vụt qua song/ Hót nắng vàng ánh ỏi " biện pháp tu từ được sử dụng là nhân hóa và ẩn dụ. Tác dụng của biện pháp này là tạo ra hình ảnh sống động, gợi cảm, rộn ràng của một buổi sáng mùa hè và âm thanh trong trẻo thánh thót của tiếng chim sẻ.