Nguyễn Hà My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hà My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài làm

Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất) người làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mộc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. về sáng tác, ngoài tác phẩm chính là Chinh phụ ngâm và các tác phẩm được viết bằng chữ Hán . Đoạn trích trên chính là một trong số đó.

Phần một là tám câu đầu:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà tthôi.

Buồn rầu chẳng nói nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

Giữa thời buổi loạn lạc, nhà có người đi lính, ‘gia thư để vạn kim’, họa có mấy khi có người về báo tin chiến trận? Người vợ nghe tin thắng trận cũng lo sợ, mà nghe tin thua trận cũng lo sợ, vì ‘Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?’. Không nghe tin chồng nàng chỉ có thể chờ đợi trong lo sợ, nàng như chết dần chết mòn vì sự bi thiết trong lòng, sự bi thiết đến từ nỗi chờ mong trong cô lẻ, triền miên. Đến cả loài chim – loài có đôi cánh, có thể dang rộng bay khắp thiên hạ, cũng chẳng biết tin, há một người phòng khuê như nàng lại có thể biết tin? Dù cho ‘Hoàng điểu tọa tượng bị’, ‘Biệt li chim cũng vì người xót xa’, nhưng nàng vẫn chẳng có người đồng cảm, tựa như Bá Nha mất đi Tử Kì, Trang Tử mất đi Huệ Thi. ‘Lệ rơi khêu ngọn đèn’, nàng chong đèn suốt đêm, không ngủ được mà cũng chẳng dám ngủ – có lẽ chồng nàng sẽ về, và nàng không muốn chậm trễ đón chàng. Nhưng gà gáy canh năm, trời sáng rồi, mà bóng chàng vẫn cứ biệt tăm. ‘Cành liễu ai người vin?’, chỉ có hòe phất phơ in bóng lên tường khi mặt trời của ngày mới đến. Ai bảo mặt trời là hi vọng, ai bảo ánh sáng là nguồn sống? Nàng chỉ biết, một ngày đã lại qua, số ngày chia cách lại tăng thêm một, nỗi nhớ trong nàng lại dâng đầy, lo sợ cũng như nước lũ mà phá ra.

Tiếp phần hai là tám câu cuối:

Gà eo óc gáy sương năm trống

Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa 

Hương gượng đốt hồn đà mê mải,

Gương gượng soi lệ lại châu chan.

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt,phím loan ngại chùng.

Câu sau là phần điệp khúc bằng tiếng tỳ bà chậm rãi, day dứt – bởi sự khắc khoải trong nỗi nhớ, bởi sự triền miên và vô tận – tiếng đàn ngân mãi, tựa như tiếng khóc kìm nén của người chinh phụ trong màn đêm. Ấy không chỉ là màn đêm của bóng tối – mà còn là màn đêm của những lo lắng, sợ hãi; là màn đêm của những cô đơn, lẻ loi bị che khuất dưới ánh mặt trời ban ngày. Nếu mười sáu câu đầu là đoạn điệp khúc khi mà nỗi nhớ thương và tâm trạng đau thương được đẩy lên đến cùng cực, thì tám câu sau này lại như một đoạn nhạc dạo trước cao trào. Tấm lòng hướng về phương xa nơi chồng đang chinh chiến chậm rãi biến nỗi cô đơn thành một nỗi đau, một nỗi đau không gì sánh được. Như một chữ ‘thiết tha’, nó mài, nó cắt vào ruột gan người đọc hệt như cách nó làm đau đớn lòng người chinh phụ. Và là một ước mong cháy bỏng đêm ngày. Chúng ta bị đặt vào vị thế của những người như thế, thì ta sẽ xúc động trước khát vọng tột cùng của họ – được sống bình đẳng, hạnh phúc và không phải chịu sự chia li.

Đọc đoạn trích người đọc cứ ngỡ ngàng rằng chỉ để miêu tả tình cảnh lẻ loi, thể hiện tâm trạng khát khao tình yêu của người chinh phụ. Nhưng nếu nghĩ sâu xa hơn thì đoạn trích bày tỏ sự oán ghét chiến tranh. Chiến tranh đã chia rẽ tình yêu, ngăn cách hạnh phúc lứa đôi của nhiều thế hệ, nhất là thế hệ trẻ, có lẽ vì thế mà tác phẩm đã được độc giả cùng thời hết sức tán thưởng. Nhiều người còn dịch Chinh phụ ngâm sang thơ Nôm để khúc ngâm được truyền bá rộng rãi hơn. Bản diễn Nôm hiện hành là bản dịch thành công nhất.



Thông điệp :Câu chuyện nhắc nhở con người hãy biết trân trọng hiện tại và những giá trị đang có. Đừng quá chạy theo những ảo vọng xa xôi mà quên đi những người thân yêu bên cạnh, vì một khi đã mất đi thì không thể tìm lại được.

Lí giải thông điệp trên:

1 .Phơi bày sự vô thường : Sự thay đổi của trần thế cho thấy quy luật vô thường của thời gian và cuộc đời, một quy luật mà con người không thể chống lại. 

2.Giá trị nội tâm :Dù không thể sống lại như xưa, nhưng Từ Thức đã tìm được một giá trị khác, đó là sự bình yên và an nhiên cho tâm hồn, qua đó thể hiện sự tìm kiếm giá trị nội tâm sâu sắc. 

Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích là : hành động phản kháng, một cách thể hiện khát vọng tự do của bản thân. Chàng chọn rời bỏ cuộc sống giả tạo, đầy rẫy những toan tính, để tìm đến với thiên nhiên, với cuộc sống tự tại, thanh tao . Và Sự lựa chọn của Từ Thức là một hành động đầy ý nghĩa, thể hiện khát vọng tự do được sống và sự phản kháng của con người trước những gò bó của xã hội. Chàng đã chọn con đường riêng của chính mình một con đường đầy thử thách nhưng cũng đầy tự do, để tìm kiếm hạnh phúc đích thực cho bản thân.