Phùng Trần Uyên Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phùng Trần Uyên Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (Khoảng 150 chữ)

Hình ảnh mầm non trong bài thơ của Võ Quảng đã để lại trong em nhiều cảm xúc đẹp đẽ. Mầm non hiện lên nhỏ bé, lặng im dưới lớp vỏ cây, âm thầm quan sát thế giới xung quanh. Trước những đổi thay của thiên nhiên, mầm non vẫn kiên nhẫn chờ đợi thời khắc thích hợp để vươn mình. Khi nghe tiếng chim báo xuân, mầm non lập tức bật vỏ, khoác lên mình màu xanh biếc tràn đầy sức sống. Hình ảnh ấy gợi cho em cảm nhận sâu sắc về sức mạnh của sự sống và niềm hi vọng. Dù khởi đầu yếu ớt, chỉ cần có niềm tin và ý chí, mỗi con người đều có thể trưởng thành, tỏa sáng trong cuộc đời.

Câu 2. (Bài văn biểu cảm)

Trong cuộc đời mỗi người, chắc hẳn ai cũng có một người để yêu thương và trân trọng. Đối với em, người em yêu quý nhất chính là mẹ. Mẹ không phải là người nổi bật giữa đám đông, nhưng trong trái tim em, mẹ là người quan trọng nhất.

Mẹ em là người phụ nữ giản dị, luôn âm thầm hi sinh vì gia đình. Mỗi ngày, mẹ dậy sớm lo toan từng bữa ăn, từng việc nhỏ trong nhà. Khi em ốm, mẹ thức suốt đêm chăm sóc; khi em buồn, mẹ nhẹ nhàng an ủi, động viên. Những cử chỉ ân cần ấy tuy bình thường nhưng lại chứa đựng tình yêu thương sâu sắc.

Em yêu mẹ không chỉ bởi sự chăm sóc mà còn vì mẹ luôn dạy em cách sống tốt. Mẹ dạy em biết yêu thương người khác, biết cố gắng vượt qua khó khăn và không bỏ cuộc trước thử thách. Mỗi lời mẹ nói đều thấm đẫm sự từng trải và chân thành.

Đối với em, mẹ là điểm tựa vững chắc, là nguồn động viên lớn lao trong cuộc sống. Em luôn thầm nhủ sẽ cố gắng học tập và rèn luyện thật tốt để không phụ lòng yêu thương và hi sinh của mẹ.


Bạn đã nói:

Đề số 4 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (134)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HÀNG QUÀ RONG

Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng ăn, nhưng thường thì không để ý. Nếu chúng ta về ở các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết quà ở Hà Nội ngon chừng nào. Cũng là thứ bún chả chẳng hạn, cũng rau ấy, bún ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi. Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ khác nhau; ăn quà cũng là một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán hàng ấy, mới là người sành ăn.

Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã rao, lẫn với tiếng chổi quét đường. Đó là quà của những người thợ đi làm sớm. Rồi, có từng độ, phố xá vang lên tiếng rao “bán bánh rán nóng, trinh một, xu đôi” của một lũ trẻ con. Cái bánh rán vừa cứng và xấu, thật làm giảm thanh thế của quà Hà Nội, do một cửa hàng nào đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.

Này đây mới là quà chính tông: bánh cuốn, ăn với chả lợn béo, hay với đậu rán nóng. Nhưng là bánh cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy và trong như lụa. Vị bánh thơm, bột mịn và dẻo. Bánh chay thì thanh đạm, bánh mặn đậm vì chút mỡ hành. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng tụm năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố, dáng điệu uyển chuyển và nhanh nhẹn.

Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo hoa quánh mùi gạo thơm, xôi nồng mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi lạc, xôi vừng mỡ và dừa. Ờ, cái xôi vừng mỡ, nắm từng nắm con, ăn vừa ngậy vừa bùi. Mà có đắt gì đâu! Ăn một, hai xu là đủ rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy còn hơi bốc lên như sương mù, ăn vừa nóng người vừa chắc dạ.

Và có ai ngẫm nghĩ kĩ cái vị hành khô chưng mỡ ở trong bát ngô nếp bung non; hành giòn và thơm phức, những hạt ngô béo rưới chút nước mỡ trong... Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon, nhưng ngon nhất và đậm nhất là ngô bung của một bà già trên Yên Phụ. Cứ mỗi buổi sáng, bà từ ô xuống phố, theo một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm nay, để các nhà muốn ăn cứ việc sai người ra đứng chờ. Bà đội thúng ngô, tay thủ vào cái áo cánh bông, và cất tiếng rao, tựa như không phải tiếng người, một tiếng rao đặc biệt và kì lạ: “É...éc”, “É...éc...”.

Đối với các bà, các cô đi chợ, cô hàng vải, cô hàng rau, là những người ưa món quà gì vừa rẻ vừa ngon, lại vừa no lâu – các cô khó tính, sành ăn và hay xét nét lắm [...].

Món quà này sạch sẽ và tinh khiết, từ quà cho đến cả quang thúng, cả cô hàng, tóc vấn gọn, áo nâu mới, quần sồi thâm [...].

Cơm nắm từng nắm dài, to nhỏ có, nằm trên chiếc mẹt phủ tấm vải màu trắng tinh để che ruồi, muỗi. Con dao cắt, sáng như nước, và lưỡi đưa ngọt như đường phèn. Cơm cắt ra từng khoanh, cô hàng lại cẩn thận gọt bỏ lớp ngoài, rồi lại cắt ra từng miếng nhỏ, vuông cạnh và dài, để bày trên đĩa. Cô muốn xơi với thứ gì? Với chả mới nhé hay giò lụa mịn màng?

Các cô vừa ăn vừa nhai nhè nhẹ và thong thả vừa hỏi han thân mật cô hàng: cùng bạn làm ăn cả, một gánh nuôi chồng con, đóng góp thì nhiều. Âu cũng là cái phận chứ biết làm thế nào.

(Thạch Lam, NXB Văn học, Hà Nội, 2004)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.

Câu 2. Theo tác giả, điều gì làm nên “nghệ thuật” ăn quà của người Hà Nội?

Câu 3. Câu văn “Con dao cắt, sáng như nước, và lưỡi đưa ngọt như đường phèn.” sử dụng biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.

Câu 4. Chủ đề của văn bản trên là gì?

Câu 5. Nhận xét về cái tôi trữ tình của tác giả được thể hiện trong văn bản trên?

Câu 6. Từ tình yêu dành cho quà ăn của Hà Nội được thể hiện trong văn bản trên, em có suy nghĩ gì về sự gắn bó của mỗi người với quê hương? (Trình bày bằng đoạn văn 5 – 7 dòng)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này




Công thức
Tải ảnh

Normal


Arial

15










Tiện ích

c1:Văn bản trên thuộc thể loại tùy bút

c2:



Bài 2
Xem hướng dẫn
II. PHẦN VIẾT (6 ĐIỂM)

Viết bài văn (khoảng 400 đến 500 chữ) phân tích đặc điểm một nhân vật văn học mà em có ấn tượng sâu sắc.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài làm tham khảo đầy đủ cho Đề số 4 SVIP:


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 điểm)

Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại tùy bút.

Câu 2.
Theo tác giả, “nghệ thuật” ăn quà của người Hà Nội là ăn đúng giờ, đúng món và chọn đúng người bán hàng, thể hiện sự tinh tế, sành ăn.

Câu 3.
Câu văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh (“sáng như nước”, “ngọt như đường phèn”).
→ Tác dụng: làm nổi bật độ sắc, độ khéo léo và sự tinh tế trong cách chế biến, phục vụ quà ăn Hà Nội, gợi cảm giác hấp dẫn, sinh động.

Câu 4.
Chủ đề của văn bản: Vẻ đẹp tinh tế của văn hóa quà rong Hà Nội và tình yêu tha thiết của tác giả đối với đời sống ẩm thực, con người Hà Nội xưa.

Câu 5.
Cái tôi trữ tình của tác giả là một cái tôi tinh tế, am hiểu, trân trọng những giá trị bình dị, giàu cảm xúc, chan chứa tình yêu với Hà Nội và những con người lao động nghèo.

Câu 6. (Đoạn văn 5–7 dòng)
Tình yêu dành cho quà ăn Hà Nội trong văn bản cho thấy mỗi người luôn có sự gắn bó sâu nặng với quê hương của mình. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là những hương vị, thói quen, nếp sống thân quen đi theo ta suốt cuộc đời. Chính những điều bình dị ấy nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành bản sắc của mỗi con người. Dù đi xa đến đâu, ký ức về quê hương vẫn luôn trở thành điểm tựa tinh thần ấm áp. Vì vậy, yêu quê hương cũng là biết trân trọng những điều nhỏ bé, gần gũi nhất quanh mình.


II. PHẦN VIẾT (6 điểm)

Phân tích nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao

(Khoảng 400–500 chữ)

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là nhà văn tiêu biểu với khả năng đi sâu khám phá số phận và nội tâm con người. Một trong những nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong sáng tác của ông là Lão Hạc – hình ảnh người nông dân nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng và tình thương.

Lão Hạc là một người cha hết mực yêu con. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo mà không cưới được vợ, phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su, để lại lão sống cô độc với mảnh vườn và con chó Vàng. Với lão, con chó không chỉ là vật nuôi mà còn là kỷ vật, là chỗ dựa tinh thần gắn với đứa con trai xa nhà. Chính vì vậy, việc bán chó trở thành nỗi đau dằn vặt khủng khiếp trong tâm hồn lão. Lão khóc, tự trách mình “đã lừa một con chó”, cho thấy tấm lòng nhân hậu, lương thiện đến mức đáng thương.

Không chỉ giàu tình thương, Lão Hạc còn là người giàu lòng tự trọng. Dù đói khổ, lão quyết không tiêu vào tiền bán mảnh vườn – tài sản dành cho con. Lão cũng từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo, chấp nhận sống lay lắt bằng củ chuối, sung luộc. Sự tự trọng ấy khiến lão chọn cái chết dữ dội bằng bả chó để giữ trọn nhân cách và tài sản cho con. Cái chết của lão Hạc là một bi kịch đau đớn nhưng cao cả, làm sáng lên phẩm chất tốt đẹp của người nông dân nghèo.

Qua nhân vật Lão Hạc, Nam Cao không chỉ bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với người nông dân trong xã hội cũ mà còn khẳng định: dù bị đẩy vào cảnh nghèo đói cùng cực, họ vẫn giữ được lương tâm, nhân phẩm và tình người. Lão Hạc vì thế trở thành biểu tượng cảm động cho vẻ đẹp nhân cách của con người Việt Nam trước Cách mạng.


Nếu bạn muốn đổi nhân vật khác (Chí Phèo, anh thanh niên, Phương Định…) hoặc rút gọn để học thuộc, mình làm tiếp cho nhé!

Bạn đã nói:
Viết bài văn (khoảng 400 đến 500 chữ) phân tích đặc điểm một nhân vật văn học mà em có ấn tượng sâu sắc.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài văn hoàn chỉnh (khoảng 400–500 chữ) phân tích một nhân vật văn học tiêu biểu. Em có thể chép trực tiếp làm bài:


Phân tích nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là nhà văn xuất sắc khi viết về người nông dân nghèo với tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Nhân vật để lại cho em ấn tượng sâu đậm nhất trong sáng tác của ông là Lão Hạc – một con người nghèo khổ nhưng giàu tình thương và nhân phẩm đáng quý.

Lão Hạc là một người cha hết mực yêu con. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo mà không cưới được vợ nên phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su, để lại lão sống cô độc. Tài sản duy nhất của lão là mảnh vườn dành cho con và con chó Vàng – kỷ vật gắn bó với đứa con trai xa nhà. Lão coi chó Vàng như người thân, gọi là “cậu Vàng”, chăm sóc và trò chuyện mỗi ngày. Chính vì thế, việc bán chó là nỗi đau lớn trong tâm hồn lão. Sau khi bán chó, lão ân hận, day dứt và khóc nức nở, tự trách mình đã “lừa một con chó”, thể hiện tấm lòng nhân hậu và tình yêu thương chân thành.

Không chỉ yêu con, Lão Hạc còn là người giàu lòng tự trọng. Dù đói khổ, lão quyết không tiêu vào số tiền bán mảnh vườn vì đó là tài sản để lại cho con. Lão cũng từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo, chấp nhận sống lay lắt bằng củ chuối, sung luộc. Đỉnh điểm của bi kịch là cái chết dữ dội bằng bả chó mà lão tự lựa chọn. Đó không phải là hành động tuyệt vọng đơn thuần mà là cách lão giữ trọn nhân cách, bảo toàn mảnh vườn cho con và không làm phiền đến ai.

Qua nhân vật Lão Hạc, Nam Cao đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân nghèo trong xã hội cũ: bị đẩy vào cảnh đói khổ, bế tắc nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp. Lão Hạc khiến người đọc vừa xót xa, đau đớn, vừa kính trọng bởi nhân cách trong sáng. Nhân vật ấy đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp của tình phụ tử, lòng tự trọng và phẩm giá con người.


Nếu bạn muốn đổi sang nhân vật khác (Chí Phèo, anh thanh niên, Phương Định, Dế Mèn…) mình có thể viết lại ngay theo đúng yêu cầu nhé.

Bạn đã nói:
bạn làm như trên nhưng mà không cho phần chữ đậm
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài văn hoàn chỉnh khoảng 400–500 chữ, trình bày đúng yêu cầu và không sử dụng chữ in đậm:


Phân tích nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một cây bút xuất sắc khi viết về số phận người nông dân nghèo. Nhân vật để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất trong sáng tác của ông là Lão Hạc – một con người nghèo khổ nhưng giàu tình thương và nhân phẩm cao đẹp.

Lão Hạc là một người cha hết mực yêu con. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo mà không lấy được vợ nên phẫn chí bỏ đi làm đồn điền cao su, để lão sống cô đơn nơi làng quê nghèo. Tài sản quý giá nhất của lão là mảnh vườn dành cho con và con chó Vàng – kỷ vật gắn bó với đứa con trai xa nhà. Lão coi chó Vàng như người thân, chăm sóc và trò chuyện mỗi ngày. Vì túng quẫn, lão buộc phải bán chó, nhưng sau đó lại đau đớn, ân hận và khóc nức nở, tự trách mình đã lừa một con chó. Điều đó cho thấy lão là người nhân hậu, sống giàu tình cảm và rất chân thành.

Không chỉ yêu con, Lão Hạc còn là người có lòng tự trọng cao. Dù rơi vào cảnh đói khổ, lão nhất quyết không tiêu vào số tiền bán mảnh vườn vì đó là tài sản để lại cho con trai. Lão cũng từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo, chấp nhận sống lay lắt bằng củ chuối, sung luộc. Sự nghèo đói và cô đơn đã đẩy lão vào bước đường cùng, khiến lão chọn cái chết bằng bả chó. Cái chết ấy tuy dữ dội nhưng thể hiện rõ mong muốn giữ trọn nhân cách, bảo toàn mảnh vườn cho con và không làm phiền đến người khác.

Qua hình tượng Lão Hạc, Nam Cao đã phản ánh chân thực số phận đau khổ của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước những con người lương thiện bị dồn ép đến bi kịch. Nhân vật Lão Hạc để lại trong lòng người đọc nhiều day dứt và xúc động, giúp em hiểu rõ hơn giá trị của tình phụ tử, lòng tự trọng và phẩm giá con người dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.


Nếu bạn muốn mình viết lại với nhân vật khác hoặc chỉnh giọng văn ngắn gọn hơn cho dễ học thuộc, cứ nói nhé.

Bạn đã nói:
MẦM NON

Dưới vỏ một cành bàng
Còn một vài lá đỏ
Một mầm non nho nhỏ
Còn nằm nép lặng im

Mầm non mắt lim dim
Cố nhìn qua kẽ lá
Thấy mây bay hối hả
Thấy lất phất mưa phùn
Rào rào trận lá tuôn
Rải vàng đầy mặt đất
Rừng cây trông thưa thớt
Thấy chỉ cội với cành...

Một chú thỏ phóng nhanh
Chạy nấp vào bụi vắng
Và tất cả im ắng
Từ ngọn cỏ làn rêu...
Chợt một tiếng chim kêu:
– Chiếp, chiu, chiu! Xuân tới!
Tức thì trăm ngọn suối
Nổi róc rách reo mừng
Tức thì ngàn chim muông
Nổi hát ca vang dậy

Mầm non vừa nghe thấy
Vội bật chiếc vỏ rơi
Nó đứng dậy giữa trời
Khoác áo màu xanh biếc...

(Võ Quảng, Tuyển tập Võ Quảng, NXB Văn học, 1998)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Nêu căn cứ để xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Nhận xét về cách gieo vần của khổ thơ đầu tiên.

Câu 3. Chủ đề của bài thơ là gì? Nêu căn cứ xác định chủ đề.

Câu 4. Nhan đề có phù hợp với nội dung bài thơ không? Vì sao?

Câu 5. Theo em, hình ảnh mầm non trong bài thơ có thể gợi ra thông điệp gì cho con người trong cuộc sống? Hãy lí giải thông điệp đó.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (53)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) ghi lại cảm xúc của em về hình ảnh mầm non trong bài thơ Mầm non của Võ Quảng ở phần Đọc hiểu.

Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn biểu cảm về một người mà em yêu quý.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài làm đầy đủ, đúng trọng tâm cho đề bài em gửi:


PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1.
Căn cứ để xác định thể thơ của văn bản là số chữ trong mỗi dòng thơ không đều, các dòng ngắn dài linh hoạt, không bị gò bó theo khuôn mẫu cố định → bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Khổ thơ đầu tiên gieo vần chân, các tiếng cuối dòng có sự hiệp vần gần nhau như “bàng – vàng – thớt – cành”, tạo âm điệu nhẹ nhàng, êm dịu, phù hợp với hình ảnh mầm non lặng lẽ.

Câu 3.
Chủ đề của bài thơ là sự sống trỗi dậy mạnh mẽ của mầm non khi mùa xuân đến, thể hiện niềm vui, hy vọng trước sự đổi thay của thiên nhiên.
Căn cứ: hình ảnh mầm non từ trạng thái “nằm nép lặng im” đến “vội bật chiếc vỏ rơi”, “khoác áo màu xanh biếc” khi nghe tin xuân tới.

Câu 4.
Nhan đề “Mầm non” hoàn toàn phù hợp với nội dung bài thơ vì mầm non là hình ảnh trung tâm, xuyên suốt tác phẩm, vừa tả thực sự sống của thiên nhiên, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho sự khởi đầu và hy vọng.

Câu 5.
Hình ảnh mầm non gợi ra thông điệp: trong cuộc sống, dù hoàn cảnh khó khăn, con người vẫn cần kiên nhẫn, tin tưởng và mạnh mẽ vươn lên. Mầm non phải chờ đợi, chịu đựng mùa đông lạnh lẽo nhưng khi thời cơ đến,

Bạn đã nói:
k viết chữ đậm
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài làm đầy đủ, trình bày rõ ràng và không sử dụng chữ in đậm:


I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1.
Căn cứ để xác định thể thơ của văn bản là số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều, cách ngắt nhịp linh hoạt, không gò bó theo khuôn mẫu cố định. Vì vậy, bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Khổ thơ đầu tiên gieo vần chân, các tiếng cuối dòng như “bàng – im”, “đỏ – nhỏ” tạo sự liên kết tự nhiên, nhịp điệu nhẹ nhàng, phù hợp với hình ảnh mầm non còn nép mình lặng lẽ.

Câu 3.
Chủ đề của bài thơ là ca ngợi sức sống mãnh liệt của mầm non và vẻ đẹp của sự sống khi mùa xuân đến. Căn cứ là hình ảnh mầm non từ trạng thái lặng im, nép mình đã vươn dậy mạnh mẽ khi nghe tiếng chim báo xuân, hòa vào sự sống rộn ràng của thiên nhiên.

Câu 4.
Nhan đề “Mầm non” hoàn toàn phù hợp với nội dung bài thơ vì hình ảnh mầm non là hình ảnh trung tâm, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Qua mầm non, tác giả thể hiện sự sống mới, niềm tin và hi vọng vào tương lai.

Câu 5.
Hình ảnh mầm non trong bài thơ gợi cho con người thông điệp về niềm tin, sự kiên trì và sức sống tiềm tàng. Dù ban đầu nhỏ bé, lặng im trước khó khăn, nhưng khi thời cơ đến, con người cần mạnh dạn vươn lên, vượt qua thử thách để khẳng định giá trị của bản thân trong cuộc sống.


Trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một cây bút xuất sắc khi viết về số phận người nông dân nghèo. Nhân vật để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất trong sáng tác của ông là Lão Hạc – một con người nghèo khổ nhưng giàu tình thương và nhân phẩm cao đẹp.

Lão Hạc là một người cha hết mực yêu con. Vợ mất sớm, con trai vì nghèo mà không lấy được vợ nên phẫn chí bỏ đi làm đồn điền cao su, để lão sống cô đơn nơi làng quê nghèo. Tài sản quý giá nhất của lão là mảnh vườn dành cho con và con chó Vàng – kỷ vật gắn bó với đứa con trai xa nhà. Lão coi chó Vàng như người thân, chăm sóc và trò chuyện mỗi ngày. Vì túng quẫn, lão buộc phải bán chó, nhưng sau đó lại đau đớn, ân hận và khóc nức nở, tự trách mình đã lừa một con chó. Điều đó cho thấy lão là người nhân hậu, sống giàu tình cảm và rất chân thành.

Không chỉ yêu con, Lão Hạc còn là người có lòng tự trọng cao. Dù rơi vào cảnh đói khổ, lão nhất quyết không tiêu vào số tiền bán mảnh vườn vì đó là tài sản để lại cho con trai. Lão cũng từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo, chấp nhận sống lay lắt bằng củ chuối, sung luộc. Sự nghèo đói và cô đơn đã đẩy lão vào bước đường cùng, khiến lão chọn cái chết bằng bả chó. Cái chết ấy tuy dữ dội nhưng thể hiện rõ mong muốn giữ trọn nhân cách, bảo toàn mảnh vườn cho con và không làm phiền đến người khác.

Qua hình tượng Lão Hạc, Nam Cao đã phản ánh chân thực số phận đau khổ của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước những con người lương thiện bị dồn ép đến bi kịch. Nhân vật Lão Hạc để lại trong lòng người đọc nhiều day dứt và xúc động, giúp em hiểu rõ hơn giá trị của tình phụ tử, lòng tự trọng và phẩm giá con người dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

c1:Văn bản trên thuộc thể loại tùy bút

c2:Theo tác giả,nghệ thuật ăn quà của người Hà Nội là ăn đúng giờ đúng món và chọn đúng người bán,thể hiện sự tinh tế,sành ăn

c3:Câu văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh(“sáng như nước”, “ngọt như đường phèn”).
→ Tác dụng: làm nổi bật độ sắc,độ khéo léo,và sự tinh tế trong cách chế biến, phục vụ quà ăn Hà Nội, gợi cảm giác hấp dẫn, sinh động.

c4:Chủ đề của văn bản,vẻ đẹp tinh tế của văn hóa quà rong Hà Nội và tình yêu tha thiết của tác giả đối với đời sống ẩm thực,con người Hà Nội xưa

c5:Cái tôi trữ tình của tác giả là một cái tinh tế,am hiểu,trân trọng những giá trị bình dị chan chứa tình yêu với Hà Nội và những con người lao động nghèo.

c6:Tình yêu dành cho quà ăn Hà Nội trong văn bản cho thấy mỗi người luôn có sự gắn bó sâu nặng với quê hương của mình. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là những hương vị, thói quen, nếp sống thân quen đi theo ta suốt cuộc đời. Chính những điều bình dị ấy nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành bản sắc của mỗi con người. Dù đi xa đến đâu, ký ức về quê hương vẫn luôn trở thành điểm tựa tinh thần ấm áp. Vì vậy, yêu quê hương cũng là biết trân trọng những điều nhỏ bé, gần gũi nhất quanh mình.