Mạc Hoàng Thu Chi
Giới thiệu về bản thân
Trong đoạn trích Hãy chăm sóc mẹ, diễn biến tâm lý của Chi-Hon được khắc họa tinh tế và đầy ám ảnh. Khi nghe tin mẹ bị lạc, phản ứng đầu tiên của cô là bực bội và trách móc, cô giận mọi người trong gia đình vì đã không ra ga đón bố mẹ, nhưng sâu xa hơn là nỗi dằn vặt vì chính cô cũng không có mặt. Cơn giận nhanh chóng nhường chỗ cho sự rối bời và bất an khi Chi-Hon không thể tập trung vào bất cứ điều gì. Trở lại ga tàu điện ngầm Seoul, đứng giữa dòng người đông đúc, cô bắt đầu hình dung ra nỗi hoang mang của mẹ khi bị tuột khỏi tay bố. Chính trong không gian ấy, những ký ức tưởng đã ngủ yên bỗng trở về, nhất là kỷ niệm về trước vậy năm xưa, khiến chí họ nhận ra sự vô tâm và lạnh lùng của mình đối với mẹ. Từ trách móc người khác, cô lặng lẽ quay về tự trách bản thân, để nỗi ân hận len sâu vào từng suy nghĩ. Tâm trạng ấy không ồn ào, không dữ dội, nhưng âm thầm day dứt, khiến người đọc chợt nhận ra rằng có những yêu thương chỉ khi sắp mất đi, con người ta mới kịp cảm thấy rõ ràng và đau đớn đến thế.
Trong truyện ngắn cô hàng xén, nhân vật cô Tâm để lại cho người đọc nhiều cảm xúc bởi vẻ đẹp giản dị mà chân thành. Tâm là một cô gái nông thôn quanh năm vất vả với gánh hàng xén, sáng sớm đã ra chợ, tối mịt mới trở về nhà. Trên con đường làng trong gió bấc và sương lạnh, cô vừa mệt nhọc vừa lo lắng, nhưng khi nhìn thấy cây đa, hàng tre và ánh đèn quen thuộc, lòng cô lại trở nên ấm áp, yên tâm. Niềm vui của Tâm rất nhỏ bé: được về nhà, được gặp mẹ già và các em đang mong ngóng. Cô luôn nghĩ đến các em, cẩn thận gói từng gói kẹo làm quà, sẵn sàng hy sinh niềm vui riêng để lo cho gia đình. Tâm là người chị giàu tình yêu thương và trách nhiệm, chấp nhận rời xa việc học, chịu khó buôn bán chật vật để nuôi em ăn học. Chính tình cảm gia đình êm ấm đã tiếp thêm cho cô sức mạnh để vượt qua khó khăn. Hình ảnh cô Tâm khiến người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp âm thầm, bền bỉ của người phụ nữ lao động nghèo trong xã hội xưa.
Trong văn bản Thần Mưa, nhân vật thần thoại Thần Mưa được khắc họa với những đặc điểm vừa kỳ ảo vừa mang tính đời thường. Thần có hình dáng rồng, có khả năng bay lên trời, hút nước từ sông biển rồi phun xuống trần gian làm mưa, giúp con người có nước sinh hoạt và sản xuất, cây cối vì thế mà xanh tốt. Điều đó cho thấy thần mưa giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của muôn loài. Tuy nhiên, thần mưa không phải là vị thần toàn năng, hoàn hảo. Thần có tính hay quên, có nuôi cả năm không đến gây hạn hán, có nơi cả năm không đến gây hạn hán, có nơi lại mưa quá nhiều dẫn đến lụt lội. Chính sự thiếu công bằng ấy khiến con người phải lên kiện trời. Trước công việc nặng nề, một mình Thần Mưa không thể làm xuể nên trời mở cuộc thi kén các thủy tộc có tài hoá rồng để giúp thần làm mưa. Qua hình tượng thần mưa, người xưa không chỉ giải thích hiện tượng tự nhiên mà còn thể hiện ước mong về mưa thuận gió hòa, cuộc sống ổn định cho con người.
Trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hình tượng sông Hương hiện lên không chỉ như một dòng sông thiên nhiên mà còn là nhân chứng lịch sử gắn liền với vận mệnh dân tộc. Sông Hương đã sống cùng những thế kỉ vinh quang của đất nước, từ buổi đầu là dòng sông biên thuỳ xa xôi thời các vua Hùng, đến khi mang tên Linh Giang trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, giữ vai trò bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ Quốc. Dòng sông ấy còn soi bóng kinh thành Phú Xuân, chứng kiến hào khí của thời đại Nguyễn Huệ và những trang lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với các cuộc khởi nghĩa đẫm máu. Không dừng lại ở đó, sông Hương tiếp tục bước vào thời đại Cách mạng tháng Tám và nỗi đau mất mát trong mùa xuân Mậu Thân. Qua cái nhìn sâu sắc ,giàu tri thức và cảm xúc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương trở thành biểu tượng cho chiều sâu lịch sử, văn hoá và tinh thần bất khuất của Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời say mê đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người, và sông Đà trong Người lái đò sông Đà chính là một phát hiện rất riêng của ông. Ở đoạn trích này, con sông không hiện lên dữ dội mà mang vẻ đẹp trữ tình, êm đềm và đầy chất thơ. Con thuyền trôi chậm giữa khoảng sông " lặng tờ", gợi cảm giác thời gian như ngưng lại từ " đời Trần đời Lê ". Cảnh ven sông hoang sơ,tinh khiết với nương ngô non, cỏ xanh, sương đêm và đàn hươu hiền lành khiến bờ sông mang dáng dấp của một thế giới cổ xưa, vừa " tiền sử" vừa như cổ tích. Giữa không gian tĩnh lặng ấy, một tiếng còi tàu được mong chờ càng làm nổi bật nỗi khát khao giao hoà giữa con người và cuộc sống. Những chuyển động nhẹ như đàn cá quẫy nước ngọt, bọt nước lăn tăn khiến dòng sông thêm sống động mà vẫn dịu dàng. Sông Đà lúc này giống như một" người tình nhân chưa quen biết",kín đáo, sâu lắng,gợi nhiều thương nhớ. Trong nhịp trôi chậm rãi của con thuyền, người đọc như cảm nhận được nhịp thở êm đềm của núi rừng Tây Bắc và cả tình yêu thầm lặng mà Nguyễn Tuân dành cho dòng sông mình say mê. Sông Đà vì thế đi vào trang văn không ồn ào, không phô bày, mà ở lại rất lâu trong lòng người đọc bằng vẻ đẹp dịu dàng và sâu lắng.
Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một trong những phần thể hiện rõ nhất tấm lòng nhân đạo mà sâu sắc của nhà thơ. Qua việc nhắc đến nhiều hạng người khác nhau như kẻ bị bắt đi lính, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất lang thang đầu đường xó chợ, Nguyễn Du đã khắc họa một bức tranh đầy ám ảnh về những kiếp người sống trong đau khổ, chết trong cô đơn và tủi phận. Dù số phận mỗi người khác nhau, họ đều chung cảnh đời lầm than, bị chiến tranh áp bức, đói nghèo và xã hội tàn nhẫn xô đẩy đến bước đường cùng. Nỗi thương cảm của Nguyễn Du không dừng ở sự xót xa mà còn là nỗi trăn trở âm thầm , dai dẳng về thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ với " phận đàn bà" đầy cay đắng. Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi lối liệt kê liên tiếp, hình ảnh chân thực, giàu sức gợi, ngôn ngữ Nôm gần với đời sống. Giọng điệu văn tế chậm buồn, ai oán khiến nỗi đau của các linh hồn như thấm sâu vào lòng người đọc. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ viết cho người đã khuất mà còn lay động mạnh mẽ lương tri của người đang sống.
Hình tượng nàng Vọng Phu trong bài thơ Vọng Phu của Chế Lan Viên hiện lên đầy ám ảnh,mang vẻ đẹp bi thương mà cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong nỗi chờ đợi chiến miên. Nàng đứng " trong mưa trong gió" , cô độc giữa không gian mênh mông của trời đất, gợi lên dáng hình nhỏ bé nhưng bền bỉ trước sự khắc nghiệt của thời gian và lịch sử. Bi kịch của nàng không chỉ là người chồng " chẳng bao giờ về nữa" ,mà còn là sự tan vỡ của lời hẹn ước trước những " binh đao, dâu bể ". Đặc biệt hình ảnh nàng " hoá đá " không đơn thuần là sự hóa thân thể xác, mà là sự hóa thân của niềm tin, của nỗi cô đơn và của năm tháng chờ mong vô tận. Nàng chấp nhận hoá đá để giữ trọn lòng thuỷ chung, để gánh chịu nỗi đau thay cho bao người vợ trong suốt chiều dài lịch sử. Qua đó, Chế Lan Viên đã nâng nàng Vọng Phu từ một số phận cá nhân thành biểu tượng sâu nhân văn sâu sắc về đức hi sinh và lòng chung thuỷ bất tử của người phụ nữ.
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi tiếng với giọng thơ mộc mạc, đậm chất dân gian và gắn bó sâu sắc với làng quê Việt Nam. Trong bài thơ Chân quê, ông đã xây dựng hình ảnh nhân vật "em" như biểu tượng cho vẻ đẹp truyền thống của người con gái thôn quê. "Em" vốn gắn liền với những trang phục quen thuộc như yếm lụa sồi,dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ - những chi tiết gợi lên vẻ đẹp giản dị, nền nã và chân chất. Khi "em đi tỉnh về" , sự thay đổi trong cách ăn mặc khiến nhân vật trữ tình vừa ngạc nhiên vừa lo lắng. Nỗi lo ấy không chỉ là sự tiếc nuối trước hình thức đổi khác mà sâu xa hơn là nỗi sợ "em" đánh mất bản chất chân quê của mình. Lời nhắn nhủ "Em hãy giữ nguyên quê mùa" thể hiện tình cảm chân thành, sự trân trọng của tác giả đối với những giá trị truyền thống. Qua nhân vật "Em", Nguyễn Bính gửi gắm thông điệp về việc giữ gìn bản sắc, cốt cách quê hương giữa những đổi thay của cuộc sống.