Trần Thị Hà Thu
Giới thiệu về bản thân
Thái độ sống tích cực có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi người trong cuộc sống. Thái độ sống tích cực là cách người ta nhìn nhận và đối diện với những vấn đề bằng tinh thần lạc quan, chủ động tìm hướng giải quyết thay vì bi quan hay buông xuôi. Khi đối diện với khó khăn việc có một tinh thần lạc quan sẽ khiến ta có thêm động lực để cố gắng và không dễ dàng bỏ cuộc. Sống tích cực giúp ta nhìn nhận được vấn đề và tìm ra hướng giải quyết thay vì than vãn hay đổ lỗi cho người khác. Nhờ đó, ta không chỉ phát triển bản thân mà còn lan tỏa năng lượng tốt đến những người xung quanh. Thực tế cho thấy nhiều học sinh dù hoàn cảnh gia đình khó khăn vẫn nỗ lực học tập, đạt kết quả tốt vì các bạn giữ thái độ tích cực và tin rằng cố gắng mới thay đổi được tương lai. Khác với việc sống quá mơ mộng, thiếu thực tế nếu ta chỉ lạc quan suông mà không hành động thì điều đó đúng là vô nghĩa. Tích cực cần đi kèm với sự nỗ lực và ý chí vươn lên. Việc rèn luyện thái độ sống tích cực chính là cách để mỗi người tự tạo cho mình một điểm tựa tinh thần, từ đó mạnh mẽ hơn trước thử thách và sống có ý nghĩa hơn từng ngày.
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, "Người lái đò sông Đà" là tác phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ phong cách và nét nghệ thuật của ông. Trong đoạn trích trên, vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà được khắc họa đầy ấn tượng. Cảnh ven sông lặng tờ, hoang sơ như từ đời Trần đời Lê, gợi cảm giác thời gian như ngừng trôi. Thiên nhiên hiện ra thuần khiết với nương ngô non, cỏ gianh đẫm sương, đàn hươu thơ ngộ và đàn cá dầm xanh, tất cả tạo nên một bức tranh sông nước thanh bình, giàu sức gợi. Bên cạnh đó, sông Đà còn mang vẻ đẹp nên thơ, tình tứ. Nguyễn Tuân nhân hóa con sông như “một người tình nhân chưa quen biết”, “lững lờ như nhớ thương”, khiến dòng sông có hồn, có cảm xúc. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, liên tưởng độc đáo. Nhịp văn chậm rãi, giàu chất thơ đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp trữ tình, dịu dàng của sông Đà, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Qua đoạn trích, con sông Đà không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của Tây Bắc, thể hiện tình yêu tha thiết của nhà văn đối với đất nước và thiên nhiên quê hương.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, ông nổi tiếng với lối viết giàu chất trữ tình. Bút kí "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" là tác phẩm đặc sắc, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của ông, trong đó hình tượng dòng sông Hương hiện lên không chỉ thơ mộng mà còn mang vẻ đẹp hùng tráng của lịch sử dân tộc. Trong đoạn trích, sông Hương được khắc họa như một chứng nhân lịch sử, gắn bó sâu sắc với những chặng đường đấu tranh của đất nước. Từ thời các vua Hùng, sông Hương đã là dòng sông biên thùy bảo vệ cương vực, mang trong mình nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc. Trải qua các thế kỉ trung đại, cận đại rồi đến thời đại cách mạng, dòng sông ấy vẫn hiện diện trong những trang sử bi tráng, soi bóng kinh thành, chứng kiến máu lửa, hi sinh và chiến công oanh liệt. Không chỉ là chứng nhân, sông Hương còn gắn bó sâu sắc với Huế như một phần máu thịt, cùng thành phố chịu đựng những mất mát đau thương do chiến tranh gây ra. Bằng nghệ thuật liên tưởng sâu sắc, giọng văn trang trọng mà giàu cảm xúc, tác giả đã khắc họa thành công sông Hương như một chứng nhân lịch sử sống động, mang vẻ đẹp vừa hùng tráng vừa thiêng liêng, khiến người đọc thêm trân trọng quá khứ và yêu quý mảnh đất cố đô. Qua hình tượng sông Hương, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp hào hùng, bền bỉ và giàu chiều sâu lịch sử của dòng sông, qua đó thể hiện tình yêu tha thiết và niềm tự hào sâu sắc đối với quê hương, đất nước.
Trong đoạn trích "Hãy chăm sóc mẹ", nhà văn Shin Kyung Sook đã khắc họa nhân vật Chi-hon với những diễn biến tâm lý phức tạp khi biết tin mẹ bị lạc. Ban đầu, cô phản ứng bằng sự bực tức và trách móc các thành viên trong gia đình, nhưng ẩn sau đó là cảm giác day dứt vì chính mình cũng vô tâm khi tận bốn ngày sau mới biết tin. Khi trở lại ga tàu điện ngầm Seoul, nơi mẹ biến mất, tâm trạng Chi-hon chuyển sang hoang mang và lo sợ. Không gian đông đúc, hỗn loạn khiến cô càng thấm thía nỗi cô đơn và bất lực mà mẹ từng trải qua khiến cô nhớ về quá khứ, đặc biệt là kỷ niệm về chiếc váy năm xưa, làm nổi bật sự vô tâm của cô với những mong muốn rất nhỏ bé của mẹ. Nỗi ân hận ngày càng lớn khi Chi-hon nhận ra sự đối lập giữa thành công của mình nơi xa và khoảnh khắc mẹ lạc lõng giữa dòng người. Cô tự trách, tự đặt ra hàng loạt câu hỏi “giá như”, cho thấy tâm lý rối bời, đau xót. Tác giả đã sử dụng dòng hồi tưởng đan xen hiện tại, độc thoại nội tâm và miêu tả không gian giàu tính biểu tượng nhằm khắc sâu sự chuyển biến tâm lý phức tạp của Chi-hon. Qua diễn biến tâm lý của Chi-hon, tác giả thể hiện sâu sắc nỗi ân hận muộn màng của người con khi chưa kịp quan tâm, yêu thương mẹ đúng lúc, đồng thời gợi lên thông điệp nhân văn về tình mẫu tử và sự quan tâm kịp thời dành cho cha mẹ.
Trong đoạn trích "Hãy chăm sóc mẹ", nhà văn Shin Kyung Sook đã khắc họa nhân vật Chi-hon với những diễn biến tâm lý phức tạp khi biết tin mẹ bị lạc. Ban đầu, cô phản ứng bằng sự bực tức và trách móc các thành viên trong gia đình, nhưng ẩn sau đó là cảm giác day dứt vì chính mình cũng vô tâm khi tận bốn ngày sau mới biết tin. Khi trở lại ga tàu điện ngầm Seoul, nơi mẹ biến mất, tâm trạng Chi-hon chuyển sang hoang mang và lo sợ. Không gian đông đúc, hỗn loạn khiến cô càng thấm thía nỗi cô đơn và bất lực mà mẹ từng trải qua khiến cô nhớ về quá khứ, đặc biệt là kỷ niệm về chiếc váy năm xưa, làm nổi bật sự vô tâm của cô với những mong muốn rất nhỏ bé của mẹ. Nỗi ân hận ngày càng lớn khi Chi-hon nhận ra sự đối lập giữa thành công của mình nơi xa và khoảnh khắc mẹ lạc lõng giữa dòng người. Cô tự trách, tự đặt ra hàng loạt câu hỏi “giá như”, cho thấy tâm lý rối bời, đau xót. Tác giả đã sử dụng dòng hồi tưởng đan xen hiện tại, độc thoại nội tâm và miêu tả không gian giàu tính biểu tượng nhằm khắc sâu sự chuyển biến tâm lý phức tạp của Chi-hon. Qua diễn biến tâm lý của Chi-hon, tác giả thể hiện sâu sắc nỗi ân hận muộn màng của người con khi chưa kịp quan tâm, yêu thương mẹ đúng lúc, đồng thời gợi lên thông điệp nhân văn về tình mẫu tử và sự quan tâm kịp thời dành cho cha mẹ.
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính nhân vật “em” mang hình ảnh tiêu biểu cho người con gái nông thôn trước sự thay đổi của cuộc sống. Trước kia, em gắn với vẻ đẹp giản dị, quen thuộc của làng quê qua những trang phục truyền thống như yếm lụa sồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ. Đó không chỉ là cách ăn mặc mà còn thể hiện bản sắc của quê hương. Thế nhưng sau một lần đi tỉnh về, những thay đổi như khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm khiến em trở nên khác lạ trong mắt người ở quê. Sự thay đổi ấy làm nhân vật “tôi” buồn và lo lắng, bởi nó khiến cho những giá trị chân quê đang dần phai nhạt. Tuy nhiên, Nguyễn Bính không trách móc mà chỉ nhẹ nhàng bày tỏ mong muốn em giữ lại nét quê mùa vốn có. Bài thơ cũng đã sử dụng nhiều hình ảnh dân gian quen thuộc, ngôn ngữ mộc mạc, giọng điệu tâm tình như lời trò chuyện, giúp cảm xúc trở nên chân thật và gần gũi. Qua hình ảnh “em”, nhà thơ thể hiện tình yêu sâu sắc với làng quê và sự trân trọng đối với những vẻ đẹp truyền thống. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở con người dù cuộc sống có nhiều thay đổi tiến bộ hơn thì ta vẫn cần giữ gìn bản sắc của mình.
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính nhân vật “em” mang hình ảnh tiêu biểu cho người con gái nông thôn trước sự thay đổi của cuộc sống. Trước kia, em gắn với vẻ đẹp giản dị, quen thuộc của làng quê qua những trang phục truyền thống như yếm lụa sồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ. Đó không chỉ là cách ăn mặc mà còn thể hiện bản sắc của quê hương. Thế nhưng sau một lần đi tỉnh về, những thay đổi như khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm khiến em trở nên khác lạ trong mắt người ở quê. Sự thay đổi ấy làm nhân vật “tôi” buồn và lo lắng, bởi nó khiến cho những giá trị chân quê đang dần phai nhạt. Tuy nhiên, Nguyễn Bính không trách móc mà chỉ nhẹ nhàng bày tỏ mong muốn em giữ lại nét quê mùa vốn có. Bài thơ cũng đã sử dụng nhiều hình ảnh dân gian quen thuộc, ngôn ngữ mộc mạc, giọng điệu tâm tình như lời trò chuyện, giúp cảm xúc trở nên chân thật và gần gũi. Qua hình ảnh “em”, nhà thơ thể hiện tình yêu sâu sắc với làng quê và sự trân trọng đối với những vẻ đẹp truyền thống. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở con người dù cuộc sống có nhiều thay đổi tiến bộ hơn thì ta vẫn cần giữ gìn bản sắc của mình.
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính nhân vật “em” mang hình ảnh tiêu biểu cho người con gái nông thôn trước sự thay đổi của cuộc sống. Trước kia, em gắn với vẻ đẹp giản dị, quen thuộc của làng quê qua những trang phục truyền thống như yếm lụa sồi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ. Đó không chỉ là cách ăn mặc mà còn thể hiện bản sắc của quê hương. Thế nhưng sau một lần đi tỉnh về, những thay đổi như khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm khiến em trở nên khác lạ trong mắt người ở quê. Sự thay đổi ấy làm nhân vật “tôi” buồn và lo lắng, bởi nó khiến cho những giá trị chân quê đang dần phai nhạt. Tuy nhiên, Nguyễn Bính không trách móc mà chỉ nhẹ nhàng bày tỏ mong muốn em giữ lại nét quê mùa vốn có. Bài thơ cũng đã sử dụng nhiều hình ảnh dân gian quen thuộc, ngôn ngữ mộc mạc, giọng điệu tâm tình như lời trò chuyện, giúp cảm xúc trở nên chân thật và gần gũi. Qua hình ảnh “em”, nhà thơ thể hiện tình yêu sâu sắc với làng quê và sự trân trọng đối với những vẻ đẹp truyền thống. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở con người dù cuộc sống có nhiều thay đổi tiến bộ hơn thì ta vẫn cần giữ gìn bản sắc của mình.