Hoàng Thọ Mạnh
Giới thiệu về bản thân
Thái độ sống tích cực có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người trong cuộc sống. Trước hết, sống tích cực giúp con người có tinh thần lạc quan, vững vàng trước khó khăn và thử thách. Trong thực tế, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký dù bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng vẫn kiên trì tập viết bằng chân, nuôi dưỡng thái độ sống tích cực và ý chí mạnh mẽ để trở thành nhà giáo ưu tú, truyền cảm hứng cho bao thế hệ học trò. Điều đó cho thấy, khi giữ được niềm tin và tinh thần lạc quan, con người có thể vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt để vươn tới thành công. Bên cạnh đó, thái độ sống tích cực còn giúp con người tạo động lực phấn đấu, không ngừng hoàn thiện bản thân và lan tỏa năng lượng tốt đẹp đến những người xung quanh. Liên hệ với bản thân, là một học sinh, khi gặp áp lực trong học tập, em cần giữ thái độ sống tích cực, chủ động tìm cách khắc phục hạn chế, không nản chí trước điểm số hay thất bại. Nhờ đó, em sẽ học tập hiệu quả hơn và sống có ý nghĩa hơn mỗi ngày. Có thể khẳng định, thái độ sống tích cực chính là chìa khóa giúp con người vượt qua nghịch cảnh và hướng tới một cuộc sống tốt đẹp.
Trong văn bản Thần Mưa, nhân vật Thần Mưa được xây dựng mang đậm màu sắc thần thoại, kì ảo và gắn bó mật thiết với đời sống con người. Thần Mưa có hình dạng Rồng, có khả năng hút nước từ sông biển rồi phun lên trời tạo thành mưa, giúp cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu. Điều đó cho thấy Thần là biểu tượng của sức mạnh thiên nhiên và ước mơ chinh phục tự nhiên của con người xưa. Thần Mưa làm việc theo lệnh Trời, thể hiện vai trò trung gian giữa trời và hạ giới. Tuy nhiên, Thần cũng có những hạn chế như hay quên, phân phối nước không đều, gây ra hạn hán hoặc lũ lụt. Chi tiết này khiến nhân vật trở nên gần gũi, mang dáng dấp con người. Trước công việc nặng nề, Thần Mưa cần có sự trợ giúp của các loài thủy tộc, qua đó thể hiện tinh thần hợp tác. Nhìn chung, Thần Mưa vừa mang quyền năng siêu nhiên, vừa phản ánh suy nghĩ, niềm tin và khát vọng về cuộc sống no đủ, ấm no của nhân dân.
Trong đoạn trích truyện ngắn Cô hàng xén, Thạch Lam đã khắc họa nhân vật Tâm với vẻ đẹp giản dị, giàu tình thương và đức hi sinh. Tâm từng được đi học, có ước mơ và tương lai, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, cô sớm rời bỏ sách vở để gánh vác trách nhiệm gia đình. Hằng ngày, Tâm gánh hàng ra chợ trong giá lạnh, mưa rét, buôn bán vất vả để kiếm sống, nuôi mẹ già và các em nhỏ. Dù cuộc sống thiếu thốn, cô vẫn luôn nghĩ cho người khác, từ việc dành quà cho em đến sự quan tâm, lo lắng cho mẹ. Hình ảnh Tâm thu xếp hàng hóa, nhẫn nại chịu đựng mệt nhọc cho thấy phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của người phụ nữ nông thôn. Khi trở về nhà, được mẹ và các em yêu thương, Tâm cảm thấy hạnh phúc, quên đi mọi vất vả. Qua nhân vật Tâm, Thạch Lam bày tỏ niềm trân trọng đối với những con người lao động nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, đồng thời gợi lên sự cảm thông sâu sắc với số phận của họ trong xã hội cũ.
Trong đoạn trích truyện ngắn Cô hàng xén, Thạch Lam đã khắc họa nhân vật Tâm với vẻ đẹp giản dị, giàu tình thương và đức hi sinh. Tâm từng được đi học, có ước mơ và tương lai, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, cô sớm rời bỏ sách vở để gánh vác trách nhiệm gia đình. Hằng ngày, Tâm gánh hàng ra chợ trong giá lạnh, mưa rét, buôn bán vất vả để kiếm sống, nuôi mẹ già và các em nhỏ. Dù cuộc sống thiếu thốn, cô vẫn luôn nghĩ cho người khác, từ việc dành quà cho em đến sự quan tâm, lo lắng cho mẹ. Hình ảnh Tâm thu xếp hàng hóa, nhẫn nại chịu đựng mệt nhọc cho thấy phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của người phụ nữ nông thôn. Khi trở về nhà, được mẹ và các em yêu thương, Tâm cảm thấy hạnh phúc, quên đi mọi vất vả. Qua nhân vật Tâm, Thạch Lam bày tỏ niềm trân trọng đối với những con người lao động nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, đồng thời gợi lên sự cảm thông sâu sắc với số phận của họ trong xã hội cũ.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc họa sông Hương không chỉ là một dòng sông thiên nhiên mà còn là chứng nhân lịch sử gắn bó sâu sắc với vận mệnh dân tộc. Từ thời các vua Hùng, sông Hương đã mang trong mình sứ mệnh bảo vệ biên cương đất nước, trở thành dòng sông biên thùy thiêng liêng. Qua các thời kì trung đại, cận đại và hiện đại, con sông vẫn lặng lẽ đồng hành cùng Huế, soi bóng kinh thành, chứng kiến những cuộc khởi nghĩa, những biến động dữ dội của lịch sử. Đặc biệt, trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, sông Hương gắn liền với những mất mát, đau thương khi nhiều di sản văn hóa bị tàn phá, để lại nỗi xót xa sâu sắc. Bằng lối viết giàu tri thức, kết hợp giữa cảm xúc trữ tình và suy ngẫm lịch sử, tác giả đã biến sông Hương thành biểu tượng của truyền thống, của lòng yêu nước và tinh thần kiên cường. Qua đó, hình tượng sông Hương hiện lên như linh hồn của xứ Huế, mang vẻ đẹp bền bỉ, trầm lắng và đầy tự hào dân tộc.
Con sông Đà trong đoạn trích hiện lên vừa hung bạo vừa nên thơ, mang vẻ đẹp vừa dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc vừa trữ tình, vừa giàu chất sử thi. Nguyễn Tuân miêu tả những khúc sông thác đá bằng loạt hình ảnh mạnh mẽ: “bọt nước lềnh đênh”, “hòn đá thác xa xôi”, “đòi dập lên mặt sông” — tất cả tạo nên một không gian âm thanh, chuyển động mãnh liệt. Đồng thời, những chi tiết như “cỏ gianh đồi núi”, “mấy lá ngô non” và tiếng cá đập nước lại đem đến chiều sâu thơ mộng, chất hoang dại mà dịu dàng. Nghệ thuật hiện ra qua biện pháp nhân hóa, so sánh và liệt kê khiến con sông như một nhân vật sống động, có tâm trạng, có tính cách: lúc dữ như kẻ thù, lúc hiền như cổ tích. Giọng văn Nguyễn Tuân pha trộn giữa ngợi ca và trầm ngâm, nhịp câu linh hoạt, giàu nhạc điệu, giúp người đọc vừa sửng sốt trước vẻ hùng vĩ, vừa xao xuyến trước nét duyên của sông. Qua đó, sông Đà không chỉ là cảnh vật mà còn phản chiếu tâm hồn, thẩm mỹ và niềm say mê nghệ thuật của nhà văn, đồng thời khắc họa mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên hùng vĩ.
Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh đã thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo và tinh thần nhân văn cao cả của Nguyễn Du đối với những số phận bất hạnh trong xã hội. Qua những câu thơ giàu sức gợi, tác giả khắc họa hình ảnh những con người nghèo khổ, bị cuốn vào chiến tranh, loạn lạc, mất mát cả mạng sống lẫn tương lai. Họ là những người lính chết nơi chiến địa, những kẻ tha hương, những phụ nữ chịu nhiều đau khổ, những con người sống trong cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa. Bằng sự cảm thông sâu sắc, Nguyễn Du đã cất lên tiếng khóc xót thương cho những kiếp người bị lãng quên. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biện pháp so sánh, ẩn dụ, liệt kê kết hợp với giọng điệu ai oán, thống thiết, tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Nhịp thơ chậm, buồn, góp phần thể hiện không khí tang thương, đau xót. Qua đó, tác phẩm không chỉ là lời cầu siêu cho các linh hồn mà còn là bản cáo trạng đối với xã hội phong kiến bất công, đồng thời khẳng định giá trị nhân đạo bền vững trong sáng tác của Nguyễn Du.
Trong đoạn thơ, hình tượng nàng Vọng Phu hiện lên như biểu tượng cảm động cho lòng chung thủy và đức hi sinh của người phụ nữ Việt Nam. Nàng đứng chờ chồng giữa mưa gió, mây trời, trong cô đơn và khắc khoải, mang theo nỗi nhớ thương khôn nguôi. Thời gian trôi qua, chiến tranh, loạn lạc khiến người ra đi không bao giờ trở lại, nhưng nàng vẫn một lòng son sắt, không từ bỏ niềm tin. Sự chờ đợi bền bỉ ấy dần hóa thành bi kịch khi nàng “hóa đá”, không chỉ là hóa thân về thể xác mà còn là sự hóa thân của nỗi đau, của niềm tin và khát vọng đoàn tụ. Qua đó, tác giả khắc họa nỗi cô đơn, tủi cực và thiệt thòi của người vợ có chồng ra trận. Đồng thời, hình tượng nàng Vọng Phu còn phản ánh những mất mát to lớn do chiến tranh gây ra, để lại bao cảnh chia lìa, dang dở. Bằng giọng thơ da diết, xúc động, tác giả bày tỏ sự cảm thông sâu sắc và trân trọng đối với số phận, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ và hôm nay.
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên với vẻ đẹp giản dị, hồn nhiên của người con gái làng quê, nhưng cũng đang chịu tác động của cuộc sống nơi thị thành. Khi “em đi tỉnh về”, hình ảnh cô gái với khăn nhung, áo khuy bấm, quần lĩnh rộn ràng đã khiến “anh” không khỏi băn khoăn, lo lắng. Sự thay đổi về trang phục không chỉ thể hiện vẻ ngoài mới mẻ mà còn gợi lên nguy cơ phai nhạt bản sắc quê hương. Tuy nhiên, “em” không phải là người chạy theo lối sống phù hoa, xa hoa, mà chỉ đang trong quá trình trưởng thành, khám phá bản thân. Ẩn sâu trong cô vẫn là nét đẹp mộc mạc, chân thành và thuần khiết. Qua nhân vật “em”, Nguyễn Bính thể hiện niềm trân trọng đối với vẻ đẹp truyền thống và gửi gắm mong muốn con người biết giữ gìn cốt cách quê hương giữa dòng chảy đổi thay của thời đại. Hình ảnh “em” vì thế vừa gần gũi, vừa gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc hôm nay.