Dương Thu Hương
Giới thiệu về bản thân
a.
+ Đoạn văn trên được tạo thành bằng 4 câu văn được liên kết với nhau bằng phép lặp, phép thế.
+ Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào một chữ và viết hoa.
+ Đoạn văn có nội dung viết về lòng đồng cảm của con người, thuộc văn bản Yêu và đồng cảm.
b. Các câu trong đoạn văn có sự mạch lạc với nhau, cùng nói về tấm lòng đồng cảm của con người, trong câu đều nhắc đến các từ “tấm lòng” hay “lòng đồng cảm”.
c. Dấu hiệu nhận thấy sự mạch lạc giữa các đoạn:
- Đoạn văn trên và các đoạn văn khác đều hướng đến làm nổi bật chủ đề của văn bản Yêu và đồng cảm.
- Đoạn văn trên là một lý lẽ nằm trong đoạn (5) của văn bản, kết lại vấn đề về tấm lòng đồng cảm của trẻ em và con người.
d. - Những từ ngữ được lặp lại nhiều lần: con người/người, tấm lòng, lòng đồng cảm, chỉ có/chỉ vì.
- Tác dụng của việc lặp lại các từ ngữ trên là để tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu văn, đoạn văn có sự mạch lạc, logic về mặt hình thức.
a. Dấu hiệu nổi bật: câu văn thứ hai trong đoạn được triển khai không đúng với chủ đề chung của đoạn văn.
b. Dấu hiệu của lỗi liên kết:
- Giữa câu (1) và câu (2) chưa có phép liên kết hình thức.
- Phép nối được sử dụng để liên kết giữa câu (2) và câu (3) chưa phù hợp.
- Trình tự sắp xếp ý của câu (4) chưa phù hợp.c. Cách sửa:
- Thay thế phép nối.
- Sắp xếp lại vị trí câu cuối.

- Mạch lạc trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được thể hiện rất rõ qua sự chi phối của một luận đề thống nhất đối với nội dung tất cả các đoạn, các câu.
- Liên kết ở đây cũng dễ được nhận biết nhờ các phép nối, phép thế, phép lặp được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả.

Cách tác giả triển khai quan điểm như sau:
- Chiều tóc bạc vẫn thu hoạch mùa thơ dậy thì, sức trẻ từ nội lực của chữ: Lí Bạch, Gớt, Ta-go.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa – Pessoa).
+ Ét-mông Gia-bét nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ.+ Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ.
+ "Nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.* Lí lẽ thứ nhất và những dẫn chứng:

* Lí lẽ thứ hai và các dẫn chứng:

* Nhận xét về cách đưa lí lẽ và sử dụng dẫn chứng trong lập luận của tác giả:

-Câu văn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ qua các hình ảnh:một nắng hai sương,lực điền,cánh đồng giấy,hạt chữ
-Biện pháp ẩn dụ được tạo lập dựa trên sự phát triển về mối tương đồng giữa hoạt động sáng tạo của nhà thơ và lao động của người nông dân trên đồng ruộng
-Xét trên cả hai mặt:sự lao khổ và thành tựu cuối cùng có được đều do sự lao động vấ vả,nghiêm túc,tâm huyết mà có
=>Ý kiến của tác giả đã nhấn mạnh rằng thơ ca không phải sản phẩm của cảm hứng chớp nhoáng mà là kết quả của lao động nghệ thuật bền bỉ.Nhà thơ được ví như người nông dân phải cày xới chữ nghĩa,chăm chút từng câu,từng âm,đổi công sức và thời gian lấy một chữ thật đắt.Hình ảnh ấy khẳng định giá trị của bài học ,rèn luyện và sự dấn thân nghiêm túc trong sáng tạo thơ;đòng thời bác bỏ quan niệm viết thơ chỉ cần tài trời phú .Thơ hay vì vậy là kết tinh của lội lực,của sự kiên trì của một quá trình lao động lặng lẽ mà gian truân
Tác giả "rất ghét" cái quan niệm : các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm hơn nên cũng lụi tàn và "không mê" các nhà thơ thần đồng,những người sống bằng vốn trời cho
Tác giả"ưa'' những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy,tích góp từng câu chữ,hạt chữ