Vũ Thủy Tiên
Giới thiệu về bản thân
a. Dấu hiệu nổi bật: câu văn thứ hai trong đoạn được triển khai không đúng với chủ đề chung của đoạn văn
b. Dấu hiệu của lỗi liên kết:
- Giữa câu (1) và câu (2) chưa có phép liên kết hình thức.
- Phép nối được sử dụng để liên kết giữa câu (2) và câu (3) chưa phù hợp.
- Trình tự sắp xếp ý của câu (4) chưa phù hợp.c. Cách sửa:
- Thay thế phép nối.
- Sắp xếp lại vị trí câu cuối.
a) Lý do đoạn văn vẫn rời rạc: Mỗi câu nói về một nội dung, không cùng quy về một chủ đề.
b) Lỗi mạch lạc của đoạn văn:
+Đoạn văn sử dụng phép liên kết lặp chưa phù hợp.
+ Người viết nhầm lặp từ với liên kết.
+Các câu không tập trung hướng tới chủ đề.
Câu 1 nói về việc nước ta rất trọng hiền tài. Câu 2 giải thích về người hiền tài. Vì vậy cần có phép nối phù hợp: Nhà nước ta rất coi trọng hiền tài. Bởi người hiền tài có những năng lực vượt trội so với người bình thường và có thể làm được nhiều việc lớn.
Câu 3 và câu 4 không cùng chủ đề với câu 1. Câu 3 đề cập đến việc hiền tài đời nào cũng có và câu 4 khẳng định tên tuổi, sự nghiệp của họ được nhân dân ghi nhớ. Để thống nhất, mạch lạc, câu 3 và 4 nên giải thích việc “nhà nước ta rất trọng người hiền tài” như thế nào.
a) Ngữ liệu trên được coi là đoạn văn vì:
-Về hình thức:
+ Chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào và viết hoa, kết thức bằng dấu chấm xuống dòng.
+ Phép liên kết; phép lặp(lòng đồng cảm); phép thế(tấm lòng ấy, những người ấy).
- Về nội dung:
+Đoạn văn có nội dung viết về lòng đồng cảm của con người.
+Các câu đều phục vụ chủ đề đoạn văn.
+ Đoạn văn diễn đạt một ý hoàn chỉnh: quan niệm về người nghệ sĩ.
b) Mạch lạc về nội dung giữa các câu trong đoạn văn:
- Câu 1: khẳng định bản chất nghệ thuật của con người- Câu 2: chỉ ra những tác động đến bản chất nghệ thuật ấy
- Câu 3: chỉ ra tinh thần không khuất phục những tác động trên
- Câu 4: khẳng định đó là nghệ sĩ
=> Mỗi câu văn đều phải dựa vào câu văn trước đó làm tiền đề để nêu ý nghĩa.
Mạch lạc trong phép liên kết:
- Phép lặp: chỉ, đồng cảm
- Phép thế: tấm lòng ấy, những người ấy
- Phép nối: Nói cách khác
c) Dấu hiệu cho thấy mạch lạc giữa đoạn văn này và đoạn văn kề trước đó của văn bản “Yêu và đồng cảm” là có từ nối: “Nói cách khác”. Điều này cho thấy đoạn văn trước đó tác giả đã đề cập đến nội dung về người nghệ sĩ.
d) Trong đoạn văn, từ ngữ “người”, “đồng cảm”, “chỉ” được lặp lại nhiều lần. Việc lặp như vậy nhằm tạo ra mạch liên kết trong văn bản, giúp các câu trong đoạn văn cùng thống nhất một chủ đề.
Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục. Mở đầu, tác giả đưa ra khái niệm “hiền tài”, khẳng định hiền tài có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh dân tộc thông qua cách trọng dụng, đối đãi của những đấng thánh đế minh vương và cuối cùng là nêu lên tác dụng to lớn của việc được khắc tên lên bia tiến sĩ đối với người đương thời và các thế hệ sau. Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, luận điểm trước là tiền đề để luận điểm sau phát triển.
- Mạch lạc trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được thể hiện rất rõ qua sự chi phối của một luận đề thống nhất đối với nội dung tất cả các đoạn, các câu.
- Liên kết ở đây cũng dễ được nhận biết nhờ các phép nối, phép thế, phép lặp được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả.
+ Xét riêng đoạn 2, sự xuất hiện của những từ ngữ như "vì vậy", "như thế", khiến cho các câu văn gắn kết với nhau thành một dòng liên tục.
+Trong mối quan hệ với đoạn 1, đoạn 2 chứa nội dung đã được giới thiệu trước đó qua từ "rằng".
+Trong mối quan hệ với đoạn 3, đoạn 2 nêu các vấn đề mà sau đó sẽ được tiếp nối qua từ "lại".
Cách tác giả triển khai quan điểm như sau:
- Nhắc đến những tâm huyết , tận tụy của nhà thơ đối với những" đứa con tinh thần": Tôn-xtoi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ" Chiến tranh và hòa bình", Phlo-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc.....
- Chỉ ra vẻ đẹp giá trị tác phẩm không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác của nhà thơ: Chiều tóc bạc vẫn thu hoạch mùa thơ dậy thì, sức trẻ từ nội lực của chữ: Lí Bạch, Gớt, Ta-go.
- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa – Pessoa).
+ Ét-mông Gia-bét nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ.+ Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ.
+ "Nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.# Lí lẽ 1: Tác giả không đồng tình với những quan điểm: thơ gắn liền với những cảm cúc bộc phát, bốc đồng, làm thơ không cần cố gắng.
* Dẫn chứng 1:
- Tôn-xtoi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ" Chiến tranh và hòa bình"
- Phlo-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li.....
- Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.
- Làm thơ không phải là may rủi, đánh quả.
- Không ai trúng độc đắc suốt đời.
# Lí lẽ 2: tác giả không đồng tình với quan niệm: Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
* Dẫn chứng 2:
- Những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối
- nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời
- nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi.
- " Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ"
- Dẫn chứng về những tác giả dù lớn tuổi nhưng các tác phẩm vẫn luôn mang sức sống mạnh mẽ khát khao: Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go.
# Nhận xét: tác giả đưa ra lập luận chặt chẽ kết hợp cùng dẫn chứng xác đáng như Tôn-xtoi, Phlo-be, câu nói của Trang Tử,...Đồng thời cách đưa ra lí lẽ và bằng chứng còn thể hiện sự hiểu biết sâu xa , trải nghiệm của cá nhân tác giả "tôi rất biết".... . Ngoài ra những đối chiếu, so sánh: "đánh quả", "trúng số độc đắc" còn làm bài văn thêm thuyết phục. Cuối cùng bằng cách thể hiện rõ ràng quan điểm cảm nhận cá nhân như: "nhưng là", "đã chứ", "tôi rất ghét", "tôi không mê",.... đã khẳng định vị trí của tác giả trong bài văn.