Nguyễn Thuỳ Dương
Giới thiệu về bản thân
a. Dấu hiệu nổi bật giúp ta nhận ra lỗi về mạch lạc trong đoạn văn là: sử dụng sai quan hệ từ "nhưng" tại câu 3 và đại từ thay thế "nó" đầu câu 4.
b. Các dấu hiệu của lỗi liên kết trong văn bản:
- Từ "nhưng" ở đầu câu 3: Từ "nhưng" thường dùng để nối hai vế đối lập, trong khi câu 2 bàn về nhận thức mơ hồ về lợi ích của việc đọc sách còn ở câu 3 là về việc vứt bỏ thói quen đọc sách từ nhận thức mơ hồ đó. Hai câu trên sử dụng mối quan hệ nhân - quả, vì thế sử dụng từ nối "nhưng" sẽ khiến câu văn lủng củng, khó hiểu.
- Đại từ thay thế "nó" ở đầu câu 4: Từ "nó" trong câu 4 thay thế cho từ "điện thoại thông minh". Tuy nhiên trước nó là câu 3, bàn về con người và thói quen đọc sách, khiến người đọc dễ bị nhầm lẫn đối tượng thay thế.
c. Cách sửa để bảo đảm đoạn văn có sự mạch lạc và chi tiết: Sử dụng các đại từ thay thế, các từ nối sao cho hợp lí.
a. Phép lặp từ được sử dụng ở các câu kề nhau nhưng đoạn văn vẫn rời rạc vì phương tiện nối giữa các câu không phù hợp và các câu chưa thống nhất cùng một chủ đề.
b. Đoạn văn chưa có phương tiện kết nối hợp lí, các câu không nói về cùng một chủ đề.
- Câu 1 nói về việc nước ta rất trọng hiền tài. Câu 2 giải thích về người hiền tài. Vì thế mà giữa hai câu cần có phép nối phù hợp. Ta có thể viết như sau: Nhà nước ta rất coi trọng hiền tài. Bởi người hiền tài có những năng lực vượt trội so với người bình thường và có thể làm được nhiều việc lớn.
- Câu 3 và câu 4 không cùng chủ đề với câu 1. Câu 3 đề cập đến việc hiền tài đời nào cũng có và câu 4 khẳng định tên tuổi, sự nghiệp của họ được nhân dân ghi nhớ. Để đoạn văn mạch lạc hơn, câu 3 và 4 nên giải thích việc nhà nước ta trọng người hiền tài như thế nào.
a. Các câu văn trên được coi là một đoạn văn vì nó có luận đề và các luận điểm xoay quanh và bổ trợ cho luận đề đó.
b. Mạch lạc giữa các câu trong đoạn văn trên là:
- Câu 1: nêu luận điểm: con người vốn giàu lòng đồng cảm
- Câu 2: nguyên nhân khiến lòng đồng cảm bị hao mòn.
- Câu 3: đi ngược vấn đề: người thực sự thông minh vẫn giữ được lòng đồng cảm dù bị áp lực.
- Câu 4: kết luận: những người giữ được lòng đồng cảm ấy chính là nghệ sĩ.
- Về mạch lạc: văn bản được triển khai theo trình tự hợp lí. Từ vai trò của hiền tài và thực trạng cho đến đề xuất trách nhiệm và chính sách trong việc trọng dụng nhân tài. Các đoạn được viết theo quan hệ nguyên nhân - giải pháp.
- Về liên kết: các câu trong đoạn văn làm nổi bật chủ đề chính của từng đoạn và được liên kết với nhau bằng các phép lặp, phép thế, phép nối.
Tác giả triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” bằng cách giải thích rằng danh hiệu “nhà thơ” không phải một chức suốt đời, mà mỗi bài thơ đều là một lần người viết phải ứng cử lại trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Ông dẫn lời Ét-mông Gia-bét để khẳng định chữ nghĩa có quyền quyết định cuối cùng: chỉ khi nhà thơ làm việc một cách nghiêm túc, tạo ra tác phẩm thật sự có nội lực thì mới được “bầu”. Tác giả còn đưa thêm dẫn chứng về Vích-to Huy-gô: dù là thiên tài, có lúc ông vẫn “không được tái cử”, rằng không phải bài nào cũng đạt đến tầm của một nhà thơ lớn. Qua đó, tác giả khẳng định rõ rằng thơ không dựa vào danh tiếng, thiên phú hay hào quang quá khứ, mà dựa vào chất lượng chữ nghĩa ở từng tác phẩm cụ thể.
Tác giả triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” bằng cách giải thích rằng danh hiệu “nhà thơ” không phải một chức suốt đời, mà mỗi bài thơ đều là một lần người viết phải ứng cử lại trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Ông dẫn lời Ét-mông Gia-bét để khẳng định chữ nghĩa có quyền quyết định cuối cùng: chỉ khi nhà thơ làm việc một cách nghiêm túc, tạo ra tác phẩm thật sự có nội lực thì mới được “bầu”. Tác giả còn đưa thêm dẫn chứng về Vích-to Huy-gô: dù là thiên tài, có lúc ông vẫn “không được tái cử”, rằng không phải bài nào cũng đạt đến tầm của một nhà thơ lớn. Qua đó, tác giả khẳng định rõ rằng thơ không dựa vào danh tiếng, thiên phú hay hào quang quá khứ, mà dựa vào chất lượng chữ nghĩa ở từng tác phẩm cụ thể.
Tác giả triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” bằng cách giải thích rằng danh hiệu “nhà thơ” không phải một chức suốt đời, mà mỗi bài thơ đều là một lần người viết phải ứng cử lại trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Ông dẫn lời Ét-mông Gia-bét để khẳng định chữ nghĩa có quyền quyết định cuối cùng: chỉ khi nhà thơ làm việc một cách nghiêm túc, tạo ra tác phẩm thật sự có nội lực thì mới được “bầu”. Tác giả còn đưa thêm dẫn chứng về Vích-to Huy-gô: dù là thiên tài, có lúc ông vẫn “không được tái cử”, rằng không phải bài nào cũng đạt đến tầm của một nhà thơ lớn. Qua đó, tác giả khẳng định rõ rằng thơ không dựa vào danh tiếng, thiên phú hay hào quang quá khứ, mà dựa vào chất lượng chữ nghĩa ở từng tác phẩm cụ thể.
Tác giả triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” bằng cách giải thích rằng danh hiệu “nhà thơ” không phải một chức suốt đời, mà mỗi bài thơ đều là một lần người viết phải ứng cử lại trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ. Ông dẫn lời Ét-mông Gia-bét để khẳng định chữ nghĩa có quyền quyết định cuối cùng: chỉ khi nhà thơ làm việc một cách nghiêm túc, tạo ra tác phẩm thật sự có nội lực thì mới được “bầu”. Tác giả còn đưa thêm dẫn chứng về Vích-to Huy-gô: dù là thiên tài, có lúc ông vẫn “không được tái cử”, rằng không phải bài nào cũng đạt đến tầm của một nhà thơ lớn. Qua đó, tác giả khẳng định rõ rằng thơ không dựa vào danh tiếng, thiên phú hay hào quang quá khứ, mà dựa vào chất lượng chữ nghĩa ở từng tác phẩm cụ thể.