Dương Thị Ngọc Diệp
Giới thiệu về bản thân
a. Dấu hiệu nổi bật cho thấy đoạn văn mắc lỗi mạch lạc:
- Các ý trong đoạn chưa được sắp xếp hợp lí, còn rời rạc, thiếu sự phát triển logic.
- Quan hệ giữa các câu chưa rõ ràng, có câu chuyển ý đột ngột, chưa làm rõ mối liên hệ giữa đọc sách và sử dụng điện thoại thông minh.
b. Dấu hiệu của lỗi liên kết trong đoạn văn:
- Thiếu hoặc sử dụng chưa hợp lí các từ ngữ liên kết (ví dụ: vì vậy, tuy nhiên, do đó…).
- Việc dùng đại từ, từ thay thế như “nó” chưa thật rõ đang chỉ đối tượng nào (sách hay điện thoại).
- Các câu chưa có sự lặp – thay thế từ ngữ hợp lí để tạo liên kết chặt chẽ.
c. Cách sửa để đoạn văn mạch lạc và liên kết hơn:
- Sắp xếp lại các ý theo trình tự logic: nêu thực trạng → nêu lợi ích của sách → so sánh với điện thoại → khẳng định vấn đề.
- Bổ sung các từ ngữ liên kết phù hợp (tuy nhiên, vì vậy, trái lại…).
- Làm rõ đối tượng được nhắc đến khi dùng từ thay thế; lặp lại hoặc thay thế từ ngữ hợp lí để tăng tính liên kết.
- Có thể chỉnh sửa, viết lại đoạn văn theo một luận điểm xuyên suốt để các câu gắn bó chặt chẽ hơn
a. Vì tuy có lặp từ “hiền tài”, nhưng các câu chưa được liên kết chặt chẽ về ý nghĩa. Mỗi câu nêu một ý riêng lẻ, thiếu quan hệ giải thích, bổ sung hay phát triển logic cho nhau nên đoạn văn vẫn rời rạc
b. Đoạn văn mắc lỗi thiếu mạch lạc về nội dung, cụ thể là:
- Chưa có ý trung tâm rõ ràng xuyên suốt đoạn.
- Các câu xếp cạnh nhau nhưng chưa theo một trình tự lập luận hợp lí, chưa làm rõ hoặc phát triển ý của nhau.
a. Vì các câu trong đoạn cùng bàn về 1 ý chính thống nhất : con người vốn giàu lòng đồng cảm và chỉ những người thông minh mới giữ được lòng đồng cảm trước áp lực của cuộc đời. Các câu liên kết chặt chẽ về nội dung và hình thức, tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh.
b. Mạch lạc được thể hiện qua trình tự lập luận logic:
- Câu 1: Nêu nhận định chung (con người vốn giàu lòng đồng cảm).
- Câu 2: Giải thích nguyên nhân lòng đồng cảm bị hao mòn.
- Câu 3: Khẳng định vai trò của trí tuệ trong việc giữ gìn lòng đồng cảm.
- Câu 4: Kết luận, mở rộng – những người giữ được lòng đồng cảm chính là nghệ sĩ.
c. Dấu hiệu là các từ ngữ mang tính nối tiếp và khái quát như: “Nói cách khác”, nội dung tiếp tục làm rõ và phát triển tư tưởng về yêu thương, đồng cảm đã được nêu ở đoạn trước.
d.
Các từ/cụm từ được lặp lại: “đồng cảm”, “con người”, “lòng”.
Tác dụng:
- Nhấn mạnh chu đề trung tâm của đoạn văn là lòng đồng cảm.
- Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu.
- Tăng sức thuyết phục cho lập luận của tác giả.
Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có mạch lạc chặt chẽ, lập luận rõ ràng. Các ý được triển khai theo trình tự hợp lí: nêu vai trò quan trọng của hiền tài đối với quốc gia, khẳng định mối quan hệ giữa hiền tài và sự thịnh suy của đất nước, từ đó đề cao việc trọng dụng và bồi dưỡng nhân tài. Các luận điểm liên kết chặt chẽ với nhau bằng lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục, tạo nên sự thống nhất, logic cho toàn văn bản.
- Lí lẽ: Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết, nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ.
- Dẫn chứng: Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình; Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.
- Nhận xét: Những lí lẽ và dẫn chứng này làm nổi bật sự khác biệt và công phu thầm lặng, tinh tế của người làm thơ so với người viết văn xuôi, giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về giá trị và sự khó khăn của nghệ thuật thơ ca.
Quan điểm “ Chữ bầu len nhà thơ ” được tác giả triển khai phân tích thông qua việc phân tích vai trò của chữ trong thơ khác với văn xuôi “.Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc”
Tôi hiểu ý kiến đó là:đang nói lên sự "cực nhọc" trong việc tìm ra từng hạt chữ xứng đáng được đưa vào tác phẩm .Tìm ra những nét đẹp của từng con chữ để mở ra một con đường văn chương của riêng mình
Tác giả “rất ghét” cái quan niệm: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn và “không mê” các nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho.
- Tác giả “ưa” những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ.