Phan Văn Hải
Giới thiệu về bản thân
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Về kinh tế, các cuộc cách mạng này thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều ngành nghề mới và thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Về xã hội, nó làm thay đổi cơ cấu lao động, xuất hiện nhiều công việc liên quan đến công nghệ cao, đồng thời đòi hỏi con người phải nâng cao trình độ và kỹ năng để thích ứng. Về văn hóa, sự phát triển của internet và các phương tiện truyền thông hiện đại giúp con người dễ dàng tiếp cận tri thức, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, làm cho đời sống tinh thần phong phú hơn nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống.
Quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” được triển khai bằng lập luận chặt chẽ: phê phán quan niệm sai lầm, khẳng định vai trò quyết định của chữ, dùng dẫn chứng từ nhiều thi hào lớn, và nhấn mạnh rằng chỉ bằng lao động nghệ thuật bền bỉ, nhà thơ mới xứng đáng được “chữ” công nhận.
Ở phần 2 tắc giả đã đưa ra các lí lẽ như Làm thơ đòi hỏi công phu, kiên trì, không phải bốc đồng hay hoàn toàn dựa vào “trời cho”.Những cảm hứng bột phát, thiên phú chỉ là tạm thời, không thể tạo nên sự bền vững trong sáng tạo.Nhà thơ phải lao động nghiêm túc, rèn luyện liên tục thì mới có thể tạo ra thơ hay.Không có “chức nhà thơ suốt đời”; mỗi bài thơ là một lần nhà thơ “ứng cử”, phải được “chữ bầu”. Các dẫn chứng tiêu biểu của tác giả được lấy từ các câu nói nổi tiếng trong văn học tạo sự đa dạng phong Phú từ các đại thi hào nổi tiếng thế giới.Đồng thời các lí lẽ tiêu biểu cũng làm thể hiện rõ ràng, mạch lạc, thuyết phục vì đánh thẳng vào quan niệm sai lầm coi thơ là sản phẩm của thiên phú hay cảm hứng.Qua đó, tác giả đề cao lao động nghệ thuật nghiêm túc, trân trọng những người “đổi mồ hôi lấy từng hạt chữ”.
Những giá trị đích thực của thơ ca chỉ có được từ sự lao động nghệ thuật vất vả, kiên trì và nghiêm túc của nhà thơ; tài năng thiên bẩm chỉ là một phần, quan trọng hơn là ý thức nghề nghiệp và tinh thần sáng tạo không ngừng.
Tác giả rất ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm“.Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng vốn trời cho, viết theo “bốc đồng”, thiếu rèn luyện. Ngược lại Tác giả ưa những nhà thơ lao động chữ nghĩa cực nhọc, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”.
Tác giả rất ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm“.Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng vốn trời cho, viết theo “bốc đồng”, thiếu rèn luyện. Ngược lại Tác giả ưa những nhà thơ lao động chữ nghĩa cực nhọc, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”.
Tác giả rất ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm“.Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng vốn trời cho, viết theo “bốc đồng”, thiếu rèn luyện. Ngược lại Tác giả ưa những nhà thơ lao động chữ nghĩa cực nhọc, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”.
Tác giả rất ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm“.Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng vốn trời cho, viết theo “bốc đồng”, thiếu rèn luyện. Ngược lại Tác giả ưa những nhà thơ lao động chữ nghĩa cực nhọc, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”.
Tác giả rất ghét định kiến cho rằng “các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm“.Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng, những người chỉ sống bằng vốn trời cho, viết theo “bốc đồng”, thiếu rèn luyện. Ngược lại Tác giả ưa những nhà thơ lao động chữ nghĩa cực nhọc, “một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”.