Phạm Thu Quyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thu Quyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Dấu hiệu nổi bật: câu văn thứ hai trong đoạn được triển khai không đúng với chủ đề chung của đoạn văn.

b. Dấu hiệu của lỗi liên kết:

- Giữa câu (1) và câu (2) chưa có phép liên kết hình thức.

- Phép nối được sử dụng để liên kết giữa câu (2) và câu (3) chưa phù hợp.

- Trình tự sắp xếp ý của câu (4) chưa phù hợp.

c. Cách sửa:

- Thay thế phép nối.

- Sắp xếp lại vị trí câu cuối.

a) lí do đoạn văn vẫn rời rạc: mỗi câu nói về một nội dung, không cùng quy về một chủ đề.

b) lỗi mạch lạc của đoạn văn:

- đoạn văn sử dụng phép liên kết lặp chưa phù hợp.

- người viết nhầm lặp từ với liên kết.

- các câu không tập chung hướng tới chủ đề.

a. Về hình thức, đoạn văn bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, thụt đầu hàng, là sự gắn kết của các câu văn và kết thúc bằng dấu ngắt câu.

   Về nội dung, đoạn văn đã diễn đạt một ý hoàn chỉnh: quan niệm về người nghệ sĩ.

b.

Mạch lạc về nội dung giữa các câu trong đoạn văn:

- Câu 1: khẳng định bản chất nghệ thuật của con người

- Câu 2: chỉ ra những tác động đến bản chất nghệ thuật ấy

- Câu 3: chỉ ra tinh thần không khuất phục những tác động trên

- Câu 4: khẳng định đó là nghệ sĩ

=> Mỗi câu văn đều phải dựa vào câu văn trước đó làm tiền đề để nêu ý nghĩa.

Mạch lạc trong phép liên kết:

- Phép lặp: chỉ, đồng cảm

- Phép thế: tấm lòng ấy, những người ấy

- Phép nối: Nói cách khác

c. Dấu hiệu cho thấy mạch lạc giữa đoạn văn này và các đoạn văn khác của văn bản “Yêu và đồng cảm” là có từ nối: “Nói cách khác”. Điều này cho thấy đoạn văn trước đó tác giả đã đề cập đến nội dung về người nghệ sĩ.

d. Trong đoạn văn, từ ngữ “người”, “đồng cảm”, “chỉ” được lặp lại nhiều lần. Việc lặp như vậy nhằm tạo ra mạch liên kết trong văn bản, giúp các câu trong đoạn văn cùng thống nhất một chủ đề.

a. Về hình thức, đoạn văn bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, thụt đầu hàng, là sự gắn kết của các câu văn và kết thúc bằng dấu ngắt câu.

   Về nội dung, đoạn văn đã diễn đạt một ý hoàn chỉnh: quan niệm về người nghệ sĩ.

b.

Mạch lạc về nội dung giữa các câu trong đoạn văn:

- Câu 1: khẳng định bản chất nghệ thuật của con người

- Câu 2: chỉ ra những tác động đến bản chất nghệ thuật ấy

- Câu 3: chỉ ra tinh thần không khuất phục những tác động trên

- Câu 4: khẳng định đó là nghệ sĩ

=> Mỗi câu văn đều phải dựa vào câu văn trước đó làm tiền đề để nêu ý nghĩa.

Mạch lạc trong phép liên kết:

- Phép lặp: chỉ, đồng cảm

- Phép thế: tấm lòng ấy, những người ấy

- Phép nối: Nói cách khác

c. Dấu hiệu cho thấy mạch lạc giữa đoạn văn này và các đoạn văn khác của văn bản “Yêu và đồng cảm” là có từ nối: “Nói cách khác”. Điều này cho thấy đoạn văn trước đó tác giả đã đề cập đến nội dung về người nghệ sĩ.

d. Trong đoạn văn, từ ngữ “người”, “đồng cảm”, “chỉ” được lặp lại nhiều lần. Việc lặp như vậy nhằm tạo ra mạch liên kết trong văn bản, giúp các câu trong đoạn văn cùng thống nhất một chủ đề.

 nhận xét khái quát về mạch lạc và liên kết trong văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". 

- Mạch lạc trong văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia được thể hiện rất rõ qua sự chi phối của một luận đề thống nhất đối với nội dung tất cả các đoạn, các câu.

- Liên kết ở đây cũng dễ được nhận biết nhờ các phép nối, phép thế, phép lặp được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả.

- xét riêng đoạn hai, sự xuất hiện của những từ ngữ "vì vậy", "như thế", khiến cho các câu văn gắn nối thành một dòng liên tục.

- trong mối quan hệ với đoạn một(chỉ gồm một câu), đoạn hai chứa nội dung đã được giới thiệu trước đó qua từ "rằng".

- trong mối quan hệ với đoạn 3, đoạn 2 nêu các vấn đề mà sau đó sẽ được tiếp nối qua từ "lại" (trong "lại cho rằng").

 Cách tác giả triển khai quan điểm như sau:

- Chiều tóc bạc vẫn thu hoạch mùa thơ dậy thì, sức trẻ từ nội lực của chữ: Lí Bạch, Gớt, Ta-go.

- Dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa – Pessoa).

+ Ét-mông Gia-bét nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ.

+ Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ.  

+ "Nhà thơ” không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.

lí lẽ và dẫn chứng 1:

-lí lẽ:

+không đồng tình: thơ gắn liền với những cảm xúc bộc phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.

-bằng chứng: "Tôn- xtôi chữa đi chữa lại nhiều lần tiểu thuyết", "Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li", "những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi", "làm thơ không phải mai rủi đánh quả", "không ai trúng độc đắc suốt đời".

lí lẽ hai và các dẫn chứng:

-lí lẽ: không đồng tình: thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.

-bằng chứng: "những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối", "nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời", "nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi".

nhận xét về cách đưa lí lẽ và sử dụng dẫn chứng trong lập luận của tác giả:

- lập luận chặt chẽ, đưa dẫn chứng Tôn-xtôi, Phlô-be, câu nói Trang Tử.

-đưa ra những đối chiếu, so sánh: đánh quả, trúng số độc đắc.

-thái độ, nhận định rõ ràng: nhưng là, đã chứ, tôi rất ghét, tôi không mê.

-thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân: tôi rất biết.

- Tác giả "rất ghét" cái quan niệm: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn và "không mê" các nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho. - Tác giả "ưa" những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ.
- Tác giả "rất ghét" cái quan niệm: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn và "không mê" các nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho. - Tác giả "ưa" những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ.