Phan Minh Đức
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Đoạn văn khoảng 150 chữ
Bài thơ Cây đa của Trần Đăng Khoa đã gợi lên trong em nhiều cảm xúc đẹp về làng quê Việt Nam. Qua những hình ảnh giản dị như dòng mương nước, cánh đồng lúa vàng và bóng cây đa xanh mát, tác giả đã vẽ nên một bức tranh quê thanh bình và gần gũi. Cây đa hiện lên như một người bạn thân thiết của làng quê, vừa che mát cho con trâu, đàn bò, vừa là nơi nghỉ ngơi của người nông dân sau giờ lao động vất vả. Tiếng ve kêu và tán lá rì rào làm cho khung cảnh càng thêm sinh động. Đọc bài thơ, em cảm nhận được vẻ đẹp bình dị nhưng rất thân thương của quê hương. Qua đó, em càng thêm yêu thiên nhiên và trân trọng những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam.
Câu 2. Bài văn
Trong cuộc sống, mỗi người đều có những trải nghiệm đáng nhớ bên người thân trong gia đình. Đối với em, trải nghiệm khiến em nhớ nhất là lần em cùng mẹ đi thăm ông bà ở quê.
Hôm đó là dịp nghỉ hè, mẹ dẫn em về quê sau một thời gian dài không về thăm ông bà. Con đường làng quanh co, hai bên là những cánh đồng lúa xanh mướt. Khi vừa đến cổng, ông bà đã đứng chờ sẵn với nụ cười hiền hậu. Buổi chiều hôm đó, ông dẫn em ra đồng thăm ruộng, còn bà thì chuẩn bị bữa cơm gia đình thật ngon. Em được cùng bà nhặt rau, vo gạo và nghe bà kể nhiều câu chuyện về quê hương ngày xưa. Không khí gia đình lúc đó thật ấm áp và vui vẻ.
Buổi tối, cả nhà quây quần bên mâm cơm, cùng trò chuyện và cười đùa. Em cảm thấy rất hạnh phúc khi được ở bên những người thân yêu của mình. Trải nghiệm đó giúp em hiểu rằng gia đình luôn là nơi mang lại cho ta tình yêu thương và sự ấm áp.
Kỉ niệm ấy đã trở thành một trải nghiệm đáng nhớ đối với em. Nó giúp em càng thêm yêu thương và trân trọng những người thân trong gia đình.
Câu 1.
Vần được gieo trong khổ thơ đầu là vần “a” (đa – bạc – mênh mông…; đặc biệt nổi bật ở từ đa).
Câu 2.
Cây đa trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng cho: chim, ve, con trâu, đàn bò và con người (các bác nông dân nghỉ mát).
Câu 3.
Bức tranh làng quê hiện lên tươi đẹp, yên bình và trù phú, với hình ảnh cánh đồng lúa vàng, dòng nước trong, bóng cây đa mát rượi và cuộc sống thanh bình của người dân.
Câu 4.
Biện pháp tu từ nhân hoá: “Cây đa gọi gió đến / Cây đa vẫy chim về”.
→ Tác dụng: làm cho hình ảnh cây đa trở nên gần gũi, sinh động như con người, đồng thời thể hiện cây đa như người bạn thân thiết của thiên nhiên và làng quê.
Câu 5.
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ gợi cho em cảm giác rất thân thương và yên bình. Em cảm nhận được vẻ đẹp giản dị nhưng ấm áp của quê hương với cánh đồng, dòng nước và bóng cây đa. Những hình ảnh ấy khiến em thêm yêu nơi mình sinh ra và lớn lên. Quê hương không chỉ đẹp mà còn gắn với cuộc sống của người dân lao động. Vì vậy, em cần biết trân trọng và giữ gìn những vẻ đẹp đó. Em sẽ bảo vệ cây xanh, giữ gìn môi trường sạch đẹp và cố gắng học tập tốt để sau này góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Câu 1. Đoạn văn khoảng 150 chữ
Bài thơ Chợ quê đã vẽ nên một bức tranh chợ quê mộc mạc, giản dị nhưng đầy tình cảm. Qua những hình ảnh quen thuộc như rau dưa, lá trầu, chuối chín, thúng khoai hay đàn gà con, tác giả gợi lên khung cảnh buổi chợ bình dị của làng quê Việt Nam. Chợ quê không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn phản ánh cuộc sống vất vả của người dân nông thôn. Hình ảnh “mẹ già áo vá chắt bòn từng xu” khiến người đọc cảm nhận rõ sự lam lũ, tần tảo của người mẹ. Bên cạnh đó, hình ảnh bác xẩm mù lần theo dấu gậy cất tiếng hát gợi nên nỗi buồn và sự cảm thông với những mảnh đời khó khăn. Bài thơ giúp em hiểu hơn về cuộc sống của người dân quê và thêm yêu những nét đẹp bình dị của làng quê Việt Nam.
Câu 2. Bài văn
Trong cuộc sống, ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ với những người thân trong gia đình. Đối với em, kỉ niệm sâu sắc nhất là lần em được bố dạy đi xe đạp.
Hôm đó là một buổi chiều cuối tuần, bố đưa em ra con đường nhỏ gần nhà để tập đi xe đạp. Ban đầu em rất sợ vì sợ bị ngã. Bố luôn đi phía sau, một tay giữ yên xe và động viên em cố gắng. Em run run đạp từng vòng, chiếc xe lắc lư khiến em suýt ngã vài lần. Có lúc em thật sự bị ngã xuống đường và thấy rất đau. Nhưng bố vội chạy lại đỡ em dậy, phủi bụi trên quần áo rồi nhẹ nhàng nói rằng: “Không sao đâu, ai học đi xe đạp cũng phải ngã vài lần.”
Nghe lời động viên của bố, em lấy lại tự tin và tiếp tục tập. Sau nhiều lần cố gắng, cuối cùng em đã tự đi được một đoạn đường khá dài. Lúc đó em rất vui, còn bố thì mỉm cười đầy tự hào.
Kỉ niệm ấy khiến em cảm nhận rõ tình yêu thương và sự kiên nhẫn của bố dành cho mình. Nhờ có sự động viên của bố mà em đã vượt qua nỗi sợ và học được một điều mới. Đó sẽ luôn là một kỉ niệm đẹp mà em không bao giờ quên.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
Câu 2.
Trước khi vào học Trường Yên Phụ, nhân vật “tôi” được cha dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ tại nhà, học cùng với vài người anh em họ và con của bạn mẹ. Sau đó, cha còn nhờ một thầy kí có bằng Tiểu học Pháp – Việt dạy thêm vần Tây cho “tôi”.
Câu 3.
- Bài Tựa của cuốn Thế hệ ngày mai viết về kỉ niệm buổi học đầu tiên của tác giả và buổi học đầu tiên của con ông nhiều năm sau.
- Chi tiết “hai thế hệ một tấm lòng, một tinh thần” khẳng định tình yêu thương, sự quan tâm và trách nhiệm của cha mẹ đối với việc học tập của con cái luôn giống nhau qua nhiều thế hệ.
Câu 4.
Người cha hiện lên là người rất yêu thương, quan tâm và có trách nhiệm với việc học của con.
- Chi tiết thể hiện:
- Cha tự dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ cho con.
- Nhờ thầy dạy thêm vần Tây để con học tốt hơn.
- Chuẩn bị bút mực, sách vở, cặp da và đưa con đến trường trong buổi học đầu tiên.
- Đưa con đi học, đón con về và tìm bạn đi học cùng để con được thuận tiện.
Câu 5.
Qua câu chuyện buổi đầu đi học của nhân vật “tôi”, em thấy cha mẹ có vai trò rất quan trọng đối với việc học của con cái. Cha mẹ không chỉ tạo điều kiện cho con được đến trường mà còn quan tâm, hướng dẫn và động viên con học tập. Sự chăm sóc và tình yêu thương của cha mẹ giúp con có thêm động lực để học tốt hơn. Vì vậy, mỗi bậc cha mẹ cần quan tâm và đồng hành cùng con trong việc học. Đồng thời, chúng ta cũng cần biết trân trọng công lao và sự hi sinh của cha mẹ.
Trong cuộc sống, ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ. Đối với em, kỉ niệm khiến em nhớ mãi là lần em được đi chơi cùng gia đình và suýt bị lạc ở chợ.
Hôm đó là một buổi sáng cuối tuần, mẹ dẫn em ra chợ để mua đồ. Chợ rất đông người, ai cũng bận rộn mua bán. Trong lúc mẹ đang chọn rau, em mải nhìn những món đồ chơi đầy màu sắc ở một quầy hàng gần đó. Vì quá tò mò, em bước lại xem mà quên mất mẹ đang đứng phía sau. Khi quay lại, em không còn thấy mẹ đâu nữa. Lúc đó em rất hoảng sợ, tim đập nhanh và suýt bật khóc. Em đứng yên một chỗ và cố tìm mẹ giữa dòng người đông đúc.
May mắn thay, một cô bán hàng thấy em lo lắng nên hỏi thăm và giúp em tìm mẹ. Một lúc sau mẹ cũng quay lại tìm em với vẻ mặt rất lo lắng. Khi gặp lại mẹ, em vừa mừng vừa xấu hổ. Mẹ nhẹ nhàng nhắc nhở em rằng đi đâu cũng phải đi sát bên người lớn để tránh bị lạc.
Kỉ niệm đó tuy khiến em sợ hãi lúc đầu nhưng lại giúp em rút ra bài học quan trọng. Từ đó, em luôn cẩn thận hơn khi đi ra ngoài cùng gia đình và luôn nhớ phải nghe lời người lớn. Đây là một kỉ niệm mà em sẽ không bao giờ quên.
Câu 1.
Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 3.
Biện pháp tu từ liệt kê trong các từ: lu nước, bờ ao, vườn ổi.
→ Tác dụng: Gợi lên hình ảnh quen thuộc của làng quê và cho thấy tình cảm gắn bó, sự quan tâm của người ngoại đối với ngôi nhà, khu vườn, đồng thời thể hiện nỗi nhớ và tình yêu thương của cháu dành cho ngoại.
Câu 4.
Hai dòng thơ cho thấy dù ngoại đã mất và ở nơi được gọi là Thiên Đàng, nhưng tình yêu thương của ngoại vẫn luôn ở bên, dõi theo và che chở cho cháu. Điều đó thể hiện tình cảm sâu sắc và nỗi nhớ thương của người cháu dành cho ngoại.
Câu 5.
Bài thơ giúp em nhận ra cần yêu thương, kính trọng và trân trọng những người thân trong gia đình, đặc biệt là ông bà, vì họ luôn dành cho ta tình yêu thương và sự quan tâm.
Câu 6. (Đoạn văn 5–7 dòng)
Bài thơ thể hiện tình cảm yêu thương và nỗi nhớ của người cháu đối với người ngoại đã mất. Trong giấc mơ, hình ảnh ngoại trở về thăm lu nước, bờ ao, vườn ổi gợi lên khung cảnh quê hương quen thuộc và ấm áp. Ngoại vẫn dịu dàng nắm tay và dặn cháu phải ngoan, cho thấy tình yêu thương của ngoại dành cho cháu vẫn luôn còn mãi. Dù ngoại đã ở nơi Thiên Đàng nhưng vẫn như đang dõi theo và che chở cho cháu. Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc tình cảm gia đình thiêng liêng. Qua đó, em càng biết trân trọng và yêu thương những người thân của mình hơn.
Cạnh hình vuông bằng 4 cm
Diện tích hình vuông bằng:
4.4 = 16 cm2.
Diện tích mỗi hình thang cân (bằng nhau) phía ngoài hình vuông bằng:
(2 + 4). 1 : 2 = 3 cm2.
Diện tích miếng bìa bằng:
4 . 3 + 16 = 28 cm2
a) Vì AEFB là hình bình hành nên AE = BF = 17 m.
Vì ABCD là hình thang cân nên DA = CB = 18 m.
Tổng chiều dài các cạnh của thửa đất bằng:
28 + 20 + 2.17 + 2.18 = 48 + 2.(17 + 18) = 48 + 2.35 = 48 + 70 = 118 m
Trừ 2 m cổng, hàng rào dài 118 - 2 = 116 m.
b) Hình bình hành ABFE có một cạnh bằng 28 m, chiều cao hạ xuống cạnh ấy bằng 11 m nên có diện tích bằng:
28 . 11 = 308 m\(^{2}\)
Hình thang ABCD có hai đáy bằng 28 m và 20 m, chiều cao 16 m nên có diện tích bằng:
(28 + 20).16 : 2 = 384 m\(^{2}\).
Diện tích thửa đất bằng:
308 + 384 = 692 m\(^{2}\).
Lợi nhuận thu được mỗi vụ từ mỗi mét vuông là 500 000 đồng = 0,5 triệu đồng.
Lợi nhuận thu được mỗi vụ từ thửa ruộng là:
692 . 0,5 = 346 (triệu đồng).
Gọi \(n\) là số tổ công tác có thể lập được.
Do yêu cầu \(96\) bác sĩ phải được chia đều cho các tổ nên \(n\) phải là một ước của \(96\).
Tương tự, \(n\) cũng là ước của \(144\) và \(120\).
Do đó \(n \in\) ƯC\(\left(\right. 96 , 144 , 120 \left.\right)\). Muốn số tổ lập được nhiều nhất thì \(n =\) ƯCLN\(\left(\right. 96 , 144 , 120 \left.\right)\).
Ta có \(96 = 2^{5} . 3\); \(144 = 2^{4} . 3^{2}\); \(120 = 2^{3} . 3.5\).
Suy ra \(n =\) ƯCLN\(\left(\right. 96 , 144 , 120 \left.\right) \&\text{nbsp}; = 2^{3} . 3 = 24\).
Vậy có thể lập được nhiều nhất là \(24\) tổ công tác thỏa mãn yêu cầu đề ra.
a) \(25 : x = - 2^{2} - 1\) hay \(25 : x = - 4 - 1 = - \left(\right. 4 + 1 \left.\right) = - 5\)
Suy ra \(x = 25 : \left(\right. - 5 \left.\right) = - 5\).
b) \(3.3.3. \left(\right. x + 1 \left.\right) = - 3^{5}\) hay \(3^{3} . x = - 3^{5}\)
Suy ra \(x = \left(\right. - 3^{5} \left.\right) : 3^{3} = - \left(\right. 3^{5} : 3^{3} \left.\right) = - 3^{2} = - 9\).