Phạm Thành Trung
Giới thiệu về bản thân
Bạn đã nói: Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHUYỆN NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU (1) (Tóm tắt phần đầu: Trọng Quỳ nhà họ Phùng. Nhị Khanh nhà họ Từ được cha mẹ đôi bên ưng thuận cho kết duyên. Nhị Khanh sau khi về nhà chồng khéo biết cư xử, ai cũng khen, còn Trọng Quỳ lại dẫn sinh ra chơi bời lêu lồng, Nhị Khanh vẫn thường phải can ngăn. Cha của Trọng Quỳ được tiến cử vào Nghệ An dẹp giặc, Nhị Khanh khuyên chồng đi cùng cha. Ở nhà, cha mẹ Nhị Khanh tạ thế. Nàng lo việc hậu sự chu đáo rồi đến ở chung với bà cô là Lưu thị. Lưu thì rắp tâm muốn gả Nhị Khanh cho cháu họ ngoại là quan tướng quân họ Bạch song Nhị Khanh một mực chối từ, nhờ bố già (2) lặn lội vào xứ Nghệ tìm chồng về. Vợ chồng sum họp. Nhưng Trọng Quỳ lại trở về tính cũ, bê tha, lêu lông, cờ bạc. Nhị Khanh khuyên nhủ cũng không nghe. Kẻ lái buồn Đỗ Tam say mê nhan sắc Nhị Khanh nên đã rủ Trọng Quỳ cùng đánh bạc, Đồ bỏ ra trăm vạn đồng tiền còn Trọng Quỳ kí giao kèo bằng Nhị Khanh. Trọng Quỳ thua bạc, phải gọi Nhị Khanh đến để nói rõ sự tình.Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng: - Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đầu từ chối. Số trời xếp đặt, há chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng không nỡ rẽ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ, như đã đối với chàng xưa vậy nhưng xin cho uống một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút. Đỗ cả mừng, rót đấy một chén xà cừ rượu đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng: Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi. [Lược một đoạn: Nhị Khanh tự vẫn. Trọng Quỳ hối hận vô cùng. sắm đồ liệm táng tử tế rồi làm văn tế nàng. ] Trọng Quỳ đã góa vợ, rất ăn năn tội lỗi của mình. Song sinh kế ngày một cùng quẫn, ănbữa sớm lo bữa tối, phải đi vay quanh của mọi người làng xóm. Nhân nghĩ có một người bạn cũ, hiện làm quan ở Quy Hoá (3) bèn tìm đến để mong nhờ vả. Dọc đường buồn ngủ, chàng nằm ghé xuống ngủ ở gốc cây bàng, bỗng nghe trên không có tiếng gọi rằng: "Có phải Phùng lang đấy không? Nếu còn nghĩ đến tình xưa thì ngày ấy tháng ấy xin đến chờ thiếp ở cửa đến Trưng Vương(4) . Ân tình thiết tha, đừng coi là âm dương cách trở.". Sinh lấy làm lạ tiếng giống như tiếng Nhị Khanh, mở mắt ra nhìn thì chỉ thấy trên trời một đám mây đen bay về tây bắc. Sinh tuy rất lấy làm ngờ nhưng cũng muốn thử xem ra sao, bèn đúng hẹn đến trước đến ấy. Song đến nơi chỉ thây bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác. Sinh buồn rầu toan về thì mặt trời đã lặn, bèn ngả mình nằm ở một tấm ván nát trên một cái cầu. Khoảng cuối canh ba, bỗng nghe thấy tiếng khóc nức nở từ xa rồi gần; khi thấy tiếng khóc chỉ còn cách mình độ nửa trượng, nhìn kĩ thì người khóc chính là Nhị Khanh. Nàng bảo với Sinh rằng:Đa tạ ơn chàng, từ xa lặn lội tới đây, biết lấy gì để tặng chàng được! Trọng Quỳ chỉ tự nhận tội lỗi của mình. Nhân hỏi đầu đuôi thì Nhị Khanh nói: Thiếp sau khi mất đi, Thượng đế thương là oan uổng bèn ra ân chỉ. Hiện thiếp được lệ thuộc vào tòa đền này, coi giữ về những số sách văn tấu đối, không lúc nào nhàn rỗi để thăm nhau được. Bữa nọ nhân đi làm mưa, chợt trông thấy chàng nên mới gọi; nếu không thì nghìn thu dằng dặc, chẳng biết đến bao giờ được gặp gỡ nhau. [...] Trời gần sáng, Nhị Khanh vội dậy để cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, rồi thoắt chốc thì biến đi mất. Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu. Lời bình:Than ôi, người con gái có ba đạo theo, theo chồng là một. Nàng Nhị Khanh chết, có quả là đã theo chồng không? Thưa rằng không. Đời xưa bảo theo, là theo chính nghĩa chứ không theo tà dục [...] Có người vợ như thế mà để cho phải hàm oan, Trọng Quỳ thật là tuồng chó lợn. Muốn tể được nhà, phải trước tự sửa mình lấy chính, khiến cho không thẹn với vợ con, ấy là không thẹn với trời đất. (Trích Truyền kì mạn lục, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, NXB Giáo dục, 2001, tr.242 - 250) Chú thích: (1) Khoái Châu: tên huyện, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. (2) Bố già: người đầy tớ già. (3) Quy Hóa: nay thuộc tỉnh Phú Thọ. (4) Đến Trưng Vương: nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Câu 1. Truyện viết về để tài gì? Câu 2.Chỉ ra một biện pháp tu từ trong câu sau: “Song đến nơi chỉ thấy bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác.". Câu 3. Chỉ ra một chi tiết hoang đường kì ảo và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong văصخطtác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản. Câu 4. Phát biểu chủ đề của truyện. Kể tên một tác phẩm có cùng chủ đề với văn bản Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu. Câu 5. Lời bình cuối truyện không chỉ cho thấy thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật, mà còn là thông điệp về việc "tự sửa mình". Hãy đánh giá về ý nghĩa của thông điệp này. ChatGPT đã nói: Dưới đây là gợi ý trả lời các câu hỏi: Câu 1. Truyện viết về đề tài gì? Truyện viết về đề tài người phụ nữ trong xã hội phong kiến, ca ngợi đức hạnh, lòng chung thủy, nghĩa tình của người vợ, đồng thời phê phán thói xấu của người chồng vô trách nhiệm. Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ trong câu văn Câu văn sử dụng biện pháp tu từ liệt kê: “bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu…” → Tác dụng: Gợi lên khung cảnh hoang vắng, lạnh lẽo, buồn bã, phù hợp với tâm trạng cô đơn của Trọng Quỳ. Câu 3. Chi tiết hoang đường kì ảo và tác dụng Chi tiết kì ảo: → Nhị Khanh sau khi chết hiện về gặp Trọng Quỳ, nói mình được giao coi giữ ở đền. Tác dụng của yếu tố kì ảo: Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, huyền bí. Thể hiện ước mơ công lí: người hiền được minh oan, được đền đáp. Tăng giá trị nhân văn cho tác phẩm, làm nổi bật nỗi oan khuất và phẩm chất của Nhị Khanh. Câu 4. Chủ đề của truyện và tác phẩm cùng chủ đề Chủ đề: Ca ngợi người phụ nữ thủy chung, đức hạnh; lên án người chồng bạc bẽo, vô trách nhiệm; thể hiện khát vọng công lí và hạnh phúc. Tác phẩm cùng chủ đề: Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) Truyện Kiều (Nguyễn Du) Tống Trân – Cúc Hoa (Chỉ cần nêu một tác phẩm là đủ) Câu 5. Đánh giá ý nghĩa thông điệp “tự sửa mình” Thông điệp “tự sửa mình” có ý nghĩa sâu sắc: Nhắc nhở con người phải sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Muốn giữ được hạnh phúc, trước hết phải tu dưỡng đạo đức, sống đúng mực. Phê phán lối sống buông thả, ích kỉ như Trọng Quỳ. Đến nay, thông điệp này vẫn còn giá trị: mỗi người cần rèn luyện nhân cách để không làm tổn thương người khác. → Đây là lời cảnh tỉnh mang tính nhân văn sâu sắc.
Bạn đã nói: ở dưới: Nắng mới Mỗi lần nắng mới hắt bên song. Xao xác, gà trưa gáy não nùng, Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng Chập chờn sống lại những ngày không. Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời Lúc người còn sống, tôi lên mười; Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội, Áo đỏ người đưa trước dậu phơi. Hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ Hãy còn mường tượng lúc vào ra; Nét cười đen nhánh sau tay áo Trong ánh trưa hè trước dậu thưa. (Lưu Trọng Lư, Thi nhân Việt Nam , NXB Văn học, 1998, trang 288) Lựa chọn phương án trả lời đúng nhất cho các câu hỏi từ 1 đến 7: Câu 1. Nhân vật trữ tình trong bài thơ Nắng mới là ai? A. Nằng mới C. Người mẹ B. Tôi D. Con gàCâu 2. Bài thơ được viết theo thể thơ gì? A. Lục bát C. Bài luật B. Thất ngôn bát cú D. Thất ngôn Câu 3. Cho biết hoàn cảnh làm nảy sinh tâm trạng nhớ thương của nhân vật trữ tình. A. Khi "nằng mới hắt bên song". B. Khi nghe tiếng "xao xác, gà trưa gáy não nùng". C. Mỗi khi nhìn thấy nắng đầu mùa báo hiệu kết thúc những ngày lạnh ẩm, nghe tiếng gà trưa xao xác gợi lại dĩ vãng khi xưa, mỗi lúc như thế mẹ thường mang áo ra phơi. D. Mỗi khi nhớ lại dĩ vãng năm xưa có mẹ Câu 4. Những từ ngữ nào biểu hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình? A. Xao xác, não nùng, rượi buồn, chập chờn, nhớ. B. Xao xác, não nùng, buồn, sống lại, mường tương. C. Xao xác, não nùng, rượi buồn, mường tượng, cười. C. Xao xác, não nùng, rượi buồn, mường tượng, cườiCâu 5. Người mẹ hiện lên trong tâm tưởng của nhân vật tôi với những hình ảnh nào? A. Áo đỏ người đưa trước dậu phơi; Hãy còn mường tượng lúc vào ra B. Áo đỏ người đưa trước dậu phơi; Nét cười đen nhánh sau tay áo C. Người phơi áo trước dậu, người mẹ thủa thiếu thời D. Lúc người còn sống, lúc vào ra Câu 6. Anh/chị hiểu nắng mới trong bài thơ là gì? A. Ánh nắng tinh khôi, đầu tiên của một ngày mới. B. Ánh nắng đầu mùa báo hiệu đã hết những ngày lạnh, ẩm. C. Ánh nắng rực rỡ buổi trưa hè. D. Ánh nắng hiu hắt, yếu ớt cuối mùa. Câu 7. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là gì? A. Hoài niệm về quá khứ tươi đẹp. B. Ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, sâu nặng. C. Nỗi nhớ thương tha thiết với người mẹ thân yêu. D. Nỗi buồn, sự cô đơn, trống vắng trong thực tại. Trả lời câu hỏi/ thực hiện yêu cầu: Câu 8.Những từ láy được sử dụng trong bài thơ có tác dụng gì trong việc biểu hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình? Câu 9. Anh/chị hiểu như thế nào về câu thơ “Nét cười đen nhánh sau tay áo"? Câu 10. Nêu cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong ký ức của nhân vật “tôi” bằng một đoạn văn 7-10 câu. ChatGPT đã nói: Dưới đây là đáp án và gợi ý làm bài: ✅ Câu 1 B. Tôi → Bài thơ được viết theo ngôi thứ nhất (“tôi”). ✅ Câu 2 D. Thất ngôn → Mỗi dòng thơ có 7 chữ. ✅ Câu 3 C. → Hoàn cảnh đầy đủ nhất: nắng đầu mùa, tiếng gà trưa gợi lại kỉ niệm về mẹ. ✅ Câu 4 A. → Các từ thể hiện rõ cảm xúc: xao xác, não nùng, rượi buồn, chập chờn, nhớ. ✅ Câu 5 B. → Hình ảnh tiêu biểu về mẹ: áo đỏ…, nét cười đen nhánh… ✅ Câu 6 B. → “Nắng mới” là nắng đầu mùa, báo hiệu hết lạnh ẩm. ✅ Câu 7 C. → Cảm xúc chủ đạo: nỗi nhớ thương tha thiết về mẹ. ✍️ Câu 8 Các từ láy như xao xác, não nùng, chập chờn giúp gợi lên không gian yên tĩnh, buồn vắng và trạng thái cảm xúc mơ hồ, da diết của nhân vật trữ tình. Chúng làm cho nỗi nhớ mẹ trở nên sâu lắng, chân thật và giàu sức gợi hơn. ✍️ Câu 9 Câu thơ “Nét cười đen nhánh sau tay áo” gợi hình ảnh người mẹ hiền hậu, e ấp, giản dị. “Đen nhánh” diễn tả nụ cười mộc mạc, chân chất. “Sau tay áo” cho thấy sự kín đáo, khiêm nhường của người mẹ. Qua đó, tác giả thể hiện tình cảm yêu thương, trân trọng với mẹ. ✍️ Câu 10 (Đoạn văn tham khảo 7–10 câu) Trong ký ức của nhân vật “tôi”, người mẹ hiện lên thật giản dị và thân thương. Mẹ gắn liền với hình ảnh “áo đỏ người đưa trước dậu phơi” trong ánh nắng mới. Dáng mẹ lúc vào ra vẫn còn in đậm trong tâm trí con. Nụ cười “đen nhánh sau tay áo” cho thấy sự hiền hậu, mộc mạc của mẹ. Mẹ không chỉ là người chăm sóc con mà còn là nguồn yêu thương vô bờ. Dù thời gian trôi qua, hình ảnh ấy vẫn không hề phai mờ. Mỗi lần nắng mới xuất hiện, nỗi nhớ mẹ lại trỗi dậy da diết. Qua đó, ta cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng và sâu nặng.