Lê Ngọc Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Ngọc Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Bài làm

Bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện khí thế hào hùng của thời Trần và lí tưởng sống của người anh hùng. Ngay hai câu đầu, tác giả khắc hoạ hình ảnh người tướng sĩ xông pha trận mạc suốt “mấy thu”, kề vai sát cánh bảo vệ non sông. Hình ảnh “ba quân như hổ báo” và khí thế “nuốt trôi trâu” là cách nói phóng đại, cho thấy sức mạnh mạnh mẽ, quyết liệt của quân đội. Đây cũng là niềm tự hào của tác giả về thời đại mà mình đang sống. Hai câu sau chuyển sang cảm xúc riêng: nỗi trăn trở về “nợ công danh”. Dù đã lập nhiều chiến công, tác giả vẫn thấy mình chưa xứng với chí làm trai. Sự hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu cho thấy hoài bão sống đẹp, sống có ý nghĩa, muốn cống hiến nhiều hơn cho đất nước. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng hình ảnh giàu sức gợi, biện pháp so sánh, phóng đại và giọng điệu trang trọng. Nhờ đó, tác phẩm vừa gợi được không khí hào hùng của thời đại, vừa khắc sâu phẩm chất cao đẹp của con người thời Trần.

Câu 2

Bài làm

Câu Bài thơ Từ ấy của Tố Hữu là dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ, ghi lại niềm vui sướng và sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của một thanh niên yêu nước. Mạch cảm xúc của bài thơ triển khai qua ba khổ thơ, mỗi phần đều mang ý nghĩa riêng nhưng gắn kết chặt chẽ, tạo nên một bức tranh đầy sức sống về sự đổi thay trong nhận thức và tâm hồn người chiến sĩ.

Khổ thơ đầu thể hiện niềm vui bừng nở khi nhà thơ bắt gặp ánh sáng của lý tưởng. Tố Hữu dùng hình ảnh “mặt trời chân lý” để nói về Đảng. Đây là hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, diễn tả lý tưởng cách mạng như nguồn sáng lớn chiếu rọi và thức tỉnh tâm hồn người trẻ. Khi ánh sáng ấy “chói qua tim”, tâm hồn thi sĩ như được hồi sinh, trở nên trong trẻo, tươi mới. Giọng thơ sôi nổi, ngôn từ rộn ràng cho thấy niềm vui ấy không chỉ là nhận thức lý trí mà còn là rung động sâu sắc từ trái tim.

Khổ thơ thứ hai tiếp tục mở rộng cảm xúc bằng sự thay đổi trong cách nhìn nhận cuộc sống. Khi đã đến với lý tưởng, Tố Hữu không còn sống thu mình trong cái “tôi” riêng nhỏ bé nữa, mà hòa nhập với cộng đồng rộng lớn. Những hình ảnh như “buộc lòng”, “trang trải”, “gần gũi” cho thấy sự gắn bó tự nguyện, nhiệt thành của tác giả với người dân lao khổ. Đó là sự thay đổi về nhận thức: từ chỗ sống cho bản thân sang sống vì mọi người, từ tình cảm cá nhân chuyển thành tình cảm với quần chúng.

Khổ thơ cuối khẳng định tư tưởng cốt lõi của bài thơ: tình cảm giai cấp. Tố Hữu xem những người khổ “đau khổ”, “cực khổ” như người thân ruột thịt: “Tôi đã là con của vạn nhà / Là em của vạn kiếp phôi pha”. Hình ảnh hoán dụ này thể hiện rõ sự gắn bó sâu sắc giữa người chiến sĩ cách mạng với nhân dân lao động. Tình cảm ấy chân thành, thiết tha và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó không chỉ là tình cảm của một cá nhân mà còn là tinh thần chung của thời đại: yêu nước gắn với yêu dân.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ và biểu tượng độc đáo, ngôn từ giản dị mà giàu sức gợi. Giọng thơ trẻ trung, say mê và tha thiết phù hợp với tâm hồn của một thanh niên mới giác ngộ lý tưởng. Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng chính trị, tạo nên phong cách riêng cho thơ ca Tố Hữu.

Từ ấy không chỉ là lời tâm sự của Tố Hữu, mà còn là tiếng nói chung của cả một thế hệ thanh niên bước vào con đường cách mạng. Bài thơ khẳng định vẻ đẹp của lý tưởng sống: sống có mục đích, biết gắn bó với nhân dân và cống hiến cho đất nước. Đây chính là giá trị sâu bền khiến bài thơ luôn được yêu thích trong chương trình văn học hiện nay.

Câu 1: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt

Câu 2: Luật thơ của thơ là: thất ngôn tứ tuyệt cổ điển

Câu 3: Trong câu “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”, tác giả dùng biện pháp so sánh (“tì hổ”) và phóng đại (“khí thôn ngưu”).

- Cách so sánh cho thấy quân đội mạnh mẽ, dũng mãnh như hổ báo. Còn phóng đại giúp làm nổi bật khí thế hừng hực, có sức mạnh đến mức át cả sao Ngưu.

- Nhờ những biện pháp tu từ này, hình ảnh quân đội hiện lên rất hùng mạnh và tràn đầy khí thế chiến đấu.

Câu 4: Trong bài thơ Thuật hoài, hình tượng bậc nam tử hiện lên là người có chí hướng lớn và luôn nghĩ đến việc lập công với đất nước. Dù đã tham gia chiến trận, họ vẫn tự thấy mình chưa làm tròn “nợ công danh”.

- Điều này cho thấy người nam tử không chỉ mạnh mẽ, có trách nhiệm mà còn có khát vọng cống hiến, luôn muốn sống xứng đáng với lý tưởng của mình.