LÊ HOÀNG LINH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài làm
Nhà sử học Will Durant từng khẳng định: “Văn minh là dòng sông có bờ là ký ức.” Quả thật, các di tích lịch sử chính là những dấu ấn thiêng liêng lưu giữ ký ức của dân tộc qua bao thăng trầm thời gian. Để hạn chế sự xuống cấp của các di tích, trước hết cần nâng cao ý thức của mỗi người trong việc gìn giữ và bảo vệ di sản; đồng thời đẩy mạnh công tác tu bổ, phục dựng bằng những phương pháp khoa học phù hợp. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, xử lí nghiêm những hành vi xâm hại di tích và huy động sự chung tay của cộng đồng. Bảo vệ di tích không chỉ là gìn giữ những mái đình, ngôi chùa hay bức tường rêu phong, mà còn là giữ gìn cội nguồn, lịch sử và hồn cốt của dân tộc. Bởi khi một di tích mất đi, một phần ký ức của quê hương cũng lặng lẽ phai mờ theo năm tháng.
Câu 2:
Bài làm
Nhà thơ Xuân Diệu từng viết: “ Đi giữa mùa xuân lòng cũng hoá thành thơ”. Quả thực, thiên nhiên và những vùng đất linh thiêng linh khơi dậy cho con người ta những rung cảm đẹp đẽ nhất. Bài thơ “ Đường vào Yên Tử” của Hoàng Quang thuận hiện lên với một bức hoạ Yên Tử hùng vĩ, vừa thấm đẫm màu sắc linh thiêng, qua đó thể hiện tình yêu và niềm tự hào tác giả trước vẻ đẹp của non thiêng đất Việt.
Trước hết, bài thơ khắc họa vẻ đẹp thanh bình, trù phú của con đường vào Yên Tử. Những dấu tích của mùa lễ hội còn in trên “vệt đá mòn chân”, những “trập trùng núi biếc cây xanh lá”, những cánh bướm tung bay trong nắng trưa đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên sống động, tươi mới và đầy sức sống. Thiên nhiên Yên Tử hiện lên vừa gần gũi vừa khoáng đạt, mang đến cho con người cảm giác thanh thản, bình yên.
Không chỉ vậy, tác giả còn làm nổi bật vẻ đẹp hùng vĩ, huyền ảo của núi rừng Yên Tử. Hình ảnh “muôn vạn dải sen mây dong đưa” gợi những áng mây bồng bềnh mềm mại như những cánh sen giữa trời cao. Phép so sánh “Trông như đám khói người Dao vậy” cùng hình ảnh “thấp thoáng trời cao những mái chùa” đã tạo nên không gian vừa thực vừa mộng, gợi vẻ đẹp linh thiêng của chốn Phật môn. Qua đó, người đọc cảm nhận được sự hòa quyện giữa thiên nhiên hùng vĩ với nét đẹp văn hóa, tâm linh của Yên Tử.
Góp phần làm nên thành công của bài thơ là những đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu. Thể thơ năm chữ với nhịp điệu nhẹ nhàng, giàu âm hưởng; ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi; hình ảnh thơ đẹp, trong sáng; các biện pháp tu từ so sánh, từ láy được sử dụng linh hoạt đã giúp bức tranh Yên Tử hiện lên vừa chân thực vừa giàu chất thơ.
Khép lại trang thơ, Hoàng Quang Thuận đã gửi gắm vào từng vần thơ tình yêu tha thiết với non thiêng Yên Tử và niềm trân trọng những giá trị văn hoá, linh thiêng của dân tộc. Với ngôn từ giàu sức gợi và cảm xúc sâu lắng, “ Đường vào Yên Tử” để lại những dư âm thanh khiết, nhắc nhở mỗi con người cần phải biết nâng niu vẻ đẹp của quê hương, bởi như có người đã từng nói: “ quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người”.
Câu1:
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin.
Câu2:
Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là đô thị cổ Hội An được UNESCO công nhạn kaf Di sản Văn hoá Thế giới.
Câu3:
Thông tin trong văn bản được trình bày theo trình tự thời gian, từ khi thương cảng Hội An hình thành ( thế kỉ XVI), đến lúc thịnh đạt nhất( thế kỉ XVII - XVIII), rồi đến khi suy giảm dần ( thế kỉ ( thế kỉ XIX), để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thờ. Việc văn bản trình bày theo trình tự thời gian sẽ giúp độc giả dễ dàng nắm bắt thông tin của văn bản cũng như hiểu sâu sắc hơn về đô thị cổ Hội An.
Câu4:
Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh phố cổ Hội An. Việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản giúp độc giả nhìn rõ hơn về vẻ đẹp của phố cổ, cũng nhằm giúp cho văn bản trở nên trực quan, sinh động và tăng sức thuyết phục cho văn bản.
Câu5:
Văn bản trên có mục đích nhằm cung cấp thông tin, giới thiệu và khẳng định giá trị lịch sử, văn hoá của đô thị cổ Hội An. Nội dung của văn bản giới thiệu về vị trí địa lí, quá trình hình thành và phát triển đô thị cổ Hội An; những giá trị văn hoá, lịch sử và kiến trúc độc đáo với sự bảo toàn gần như nguyên vẹn của phố cổ, qua đó lí giải đc vì sao Hội An lại đc UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.
Câu1:
Bài làm
Ngôn ngữ dân tộc là linh hồn của một quốc gia, là sợi dây gắn kết các thế hệ và lưu giữ bản sắc văn hóa của dân tộc. Nhà văn Nga K. Paustovsky từng khẳng định: “Tiếng mẹ đẻ là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc.” Quả thật, tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn chứa đựng vẻ đẹp, tâm hồn và truyền thống của con người Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời đại hội nhập và bùng nổ công nghệ thông tin, sự trong sáng của tiếng Việt đang đứng trước nhiều thách thức. Nhiều người có thói quen sử dụng ngôn ngữ mạng tùy tiện, lạm dụng từ nước ngoài hoặc viết sai chính tả, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt bằng cách nói đúng, viết đúng, sử dụng từ ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Bên cạnh đó, việc thường xuyên đọc sách, học hỏi những cách diễn đạt hay và trau dồi vốn từ cũng góp phần làm giàu thêm ngôn ngữ dân tộc. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là trách nhiệm mà còn là biểu hiện của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Khi biết trân trọng tiếng mẹ đẻ, chúng ta đang góp phần gìn giữ một giá trị văn hóa thiêng liêng cho hôm nay và mai sau.
Câu2:
Bài làm
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng khẳng định: “Tiếng Việt như bùn và như lụa, óng tre ngà và mềm mại như tơ”. Quả thật, trải qua bao biến thiên của lịch sử, tiếng Việt vẫn ngân lên như mạch nguồn bất tận nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc, lưu giữ những giá trị văn hóa ngàn đời. Với giọng thơ thiết tha, giàu cảm xúc, Phạm Văn Tình qua văn bản “Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân” đã cất lên khúc ca tự hào về vẻ đẹp và sức sống trường tồn của tiếng mẹ đẻ.
Dạo đầu thi phẩm là lời ngợi ca vẻ đẹp và sức sống trường tồn của tiếng Việt trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Từ thuở cha ông “ mang gươm mở cõi dựng kinh thành”, tiếng Việt đã song hành cùng những trang lịch sử hào hùn, lưu giữ khí phách và tâm hồn Lạc Việt. Qua “Bài hịch năm nào”, qua “ nàng Kiều” tài hoa bạc mệnh hay lời Bác truyền gọi đầy ý chí, ta thây được tiếng Việt ko chỉ chuyên chở truyền thống văn hóa mà còn là nơi nuôi dưỡng nhân cách, khơi gợi khát khao vươn lên của mỗi con người. Không chủ dừng lại ở những giá trị lớn lao, tiếng Việt còn hiện diện thật gần gũ, thân thương trong tiếng của mẹ, trong những khúc hát ru của bà, tiếng trẻ thơ bi bô và cả những câu hát dân ca. Bởi vậy, tiếng Việt không chỉ là cộng cụ giao tiếp mà còn là nơi lưu giữ những tình cảm thiêng liêng, là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc qua bao thế hệ.
Đặt biệt, trong cuộc sống ngày nay, tiếng Việt vẫn mang trong mình những sức sống trẻ trung, mãnh liệt. Những lời chúc đầu xuân, những tấm thiệp thăm thầy cô, tăm cha mẹ gợi lên vẻ đẹp của truyền thống được tiếp nối trong cuộc sống hiện đại. Hình ảnh “ bánh chưng xanh ”, “ bóng chim Lạc”, “ nảy lộc đâm chồi” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, khẳng định rằng tuêngs Việt luôn được bồi đắp, hồi sinh và toả sáng cùng với sự phát triển của đất nước. Tựa như mùa xuân bất tận của dân tộc, tiếng Việt ngàn đời vẫn“ trẻ lại”, vẫn căng tràn nhựa sống và viết lên những vần thơ mới của thời đại.
Nếu nội dung là mạch nguồn khơi dậy niềm tự hào về tiếng mẹ đẻ, thì những đặc sắc nghệ thuật chính là chất men làm nên sức ngân vang của tác phẩm, giúp tình yêu tiếng Việt thấm sâu và đọng lại trong lòng người đọc. Trong thi phẩm tác giả đã sử dụng thể thơ tự do giàu nhạc điệu, giọng thơ thiết tha, sâu lắng cùng những hình ảnh mang đậm tính biểu tượng. Bên cạnh đó, điệp ngữ “ tiếng Việt” được lặp lại nhiều lần như một nốt nhấn đầy tự hào, góp phần khắc sâu tình yêu và niềm tin của tác giả vào sức sống bất diệt của tiếng mẹ đẻ.
Khép lại bài thơ, âm hưởng tự hào và yêu thương về tiếng mẹ đẻ vẫn còn ngân mãi. “Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân” không chỉ là khúc ca ngợi vẻ đẹp và sức sống trường tồn của tiếng Việt mà còn nhắc nhở mỗi người biết trân trọng, giữ gìn và làm giàu thêm thứ ngôn ngữ đã nuôi lớn tâm hồn dân tộc qua bao mùa xuân của lịch sử.
Câu1:
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận.
Câu2:
Văn bản trên đề cập đến sự lạm dụng tiếng nước ngoài trên những biển quảng cáo hay trên cả những tờ báo của nước ta.
Câu3:
Để làm sáng tỏ cho luận điểm tác giả giả đã sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng thực tế về tình trạng lạm dụng tiếng Anh trên các biển hiệu và tờ báo rồi so sánh ý thức giữ gìn tiếng mẹ đẻ tại Seoul để nhấn mạnh bài học về lòng tự tôn dân tộc.
Câu4:
Trong văn bản chữ ta, thông tin khách quan mà tác giả đưa ra là: Hàn Quốc là nước có nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, phát triển nhanh, có quan hệ quốc tế rộng rãi với các nước phương Tây, và tại đây quảng cáo thương mại không được đặt tại công sở, hội trường hay danh lam thắng cảnh, chữ nước ngoài luôn được đặt nhỏ dưới chữ Hàn Quốc. Ý kiến chủ quan của tác giả là: Việc nhiều báo chí trong nước đặt tóm tắt bài chính bằng tiếng Anh ở trang cuối chỉ để làm “oai” là một thái độ không tự trọng khi mở cửa với thế giới, khiến người đọc bị thiệt mất mấy trang thông tin quan trọng. Đây là nhận định, đánh giá mang màu sắc tư duy cá nhân của Hữu Thọ về vấn đề sử dụng ngôn ngữ nước ngoài tại Việt Nam.
Câu5:
Trong bài văn Chữ ta, Hữu Thọ sử dụng phương pháp so sánh đối lập rất rõ ràng để thuyết phục độc giả. Tác giả chia sẻ trải nghiệm công tác tại Hàn Quốc để nêu ra các thực tế khách quan: ở đây quảng cáo thương mại không được đặt tại công sở hay danh lam thắng cảnh, chữ nước ngoài luôn được đặt nhỏ dưới chữ Triều Tiên, và báo chí trong nước chỉ sử dụng tiếng nước ngoài ở mục cuối cùng để phục vụ người đọc nước ngoài. Sau đó, tác giả đối lập những thực tế này với tình hình tại Việt Nam, nơi nhiều bảng hiệu sử dụng chữ nước ngoài lớn hơn chữ Việt, và báo chí đặt tóm tắt bài chính bằng tiếng Anh ở trang cuối chỉ để làm “oai”. Việc lập luận dựa trên ví dụ cụ thể, trực quan giúp độc giả dễ dàng nắm bắt vấn đề và đồng tình với quan điểm tự trọng khi mở cửa với thế giới của tác giả.