Lê Văn Đăng
Giới thiệu về bản thân
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, người phụ nữ Việt Nam hiện lên với những phẩm chất cao quý, tiêu biểu là hình tượng má Hậu Giang trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu. Má là người mẹ nông dân bình dị, sống trong túp lều tranh nhỏ bé bên bếp lửa, vậy mà khi giặc đến tra khảo, má vẫn hiên ngang, bất khuất. Trước lưỡi gươm lạnh lẽo kề sát, má không hề run sợ, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ cán bộ cách mạng và những người con của mình. Má thà chết chứ nhất quyết không khai nơi ở của du kích. Lời má quát vào mặt quân thù: “Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!” vang lên như lời thề son sắt, thể hiện lòng yêu nước nồng nàn và ý chí gan dạ, kiên cường. Má Hậu Giang là biểu tượng của hàng triệu phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến, những con người thầm lặng mà vĩ đại, sẵn sàng hi sinh tất cả vì độc lập dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn tiếp nối qua những người phụ nữ hiện đại: năng động, bản lĩnh, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Hình tượng má Hậu Giang vì thế mãi là niềm tự hào và biết ơn sâu sắc trong lòng mỗi chúng ta.
Thể thơ song thất lục bát
Trong bài thơ "Bà má Hậu Giang", tên giặc xông vào túp lều của bà má để tra hỏi, đe dọa tìm cách lấy thông tin về du kích, nhưng bà má kiên quyết không khai báo, thể hiện lòng trung kiên và sự bất khuất.
Bốn câu thơ trên trong bài thơ Chinh phụ ngâm đã diễn tả được những tâm trạng của người chinh phụ khi tiễn người chinh phu ra chiến trường ác liệt. Ở hai câu thơ đầu: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió,/ Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn” như đang lột tả khoảng cách về địa lí, nơi chốn của hai vợ chồng, đồng thời còn là tiếng kêu xót xa, ai oán, cô đơn của người chinh phụ. Nàng đau khổ, lo lắng khi chồng mình đang ở nơi “cõi xa mưa gió”, gặp muôn trùng khó khăn. Nàng còn tự tủi cho bản thân khi phải trở về nơi mà hai người từng hạnh phúc, nhưng giờ trở thành “buồng cũ chiếu chăn”. Phép đối tài tình trong hai câu thơ đã làm sự trái ngược, cách xa của hai người càng nhiều hơn. Mặc dù xa mặt, nhưng người chinh phụ không xa lòng: “Đoái trông theo đã cách ngăn,/ Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh”. Nàng luôn nhìn về nơi “cõi xa ấy”, nhìn qua “mây biếc”, “núi xanh” để được thấy chồng. Thiên nhiên hùng vĩ, hay tượng trưng cho sự cách ngăn giữa người chinh phu và người chinh phụ, không khiến nàng bồi hồi mong nhớ về chồng. Qua từng câu chữ, sử dụng phép đối, phép ẩn dụ điêu luyện, nhà thơ đã thay cho tiếng nói của người chinh phụ cất lên cảm xúc đau đớn, bi thương, nhớ nhung qua bốn câu thơ trên.
Thể thơ song thất lục bát
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Người chinh phụ đã trải qua những giây phút đau khổ tột cùng khi người chồng đi xa chinh chiến mà không có tin tức. Nàng thể hiện tâm trạng ấy qua những hành động như tìm đến âm nhạc để giải tỏa nhưng lại càng thêm sầu muộn và nỗi nhớ thương khôn nguôi, khiến nàng cảm thấy cô đơn, lẻ loi, héo hon cả tâm hồn lẫn tuổi xuân. Nhận xét về những hành động này, có thể thấy đó là những phản ứng bi thương của một người phụ nữ yêu chồng sâu sắc, bất lực trước hoàn cảnh chiến tranh phi nghĩa, và nó còn là sự tố cáo chiến tranh đã hủy hoại hạnh phúc gia đình.
Trong Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, qua những sự việc và chi tiết tiêu biểu, nhân vật Văn Tư Lập hiện lên với nhiều phẩm chất đáng quý. Trước hết, ông là vị quan thanh liêm, nhân hậu, luôn quan tâm đến đời sống nhân dân. Khi thấy dân làng khổ sở vì nạn trộm cắp vặt, Văn Tư Lập vô cùng lo lắng, tự nhận lỗi về mình vì “ở vào địa vị một viên ấp tể” mà để dân không yên ổn làm ăn. Ông đã cho dân làng canh gác, mời thầy phù thủy về trấn yểm, song nạn trộm cắp vẫn không thuyên giảm. Không bỏ cuộc, ông tìm đến Vương tiên sinh xin bói toán, rồi tích cực làm theo lời chỉ dẫn để tìm người tài trừ nạn yêu quái. Chính nhờ sự giúp sức của người săn bắn kia mà dân chúng thoát khỏi nạn trộm cắp hoành hành. Qua những việc làm ấy, Văn Tư Lập hiện lên là người sâu sát thực tế, biết lo cho dân, có trách nhiệm với công việc và có tầm nhìn khi biết trọng dụng người tài để mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân.
Trong Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, qua những sự việc và chi tiết tiêu biểu, nhân vật Văn Tư Lập hiện lên với nhiều phẩm chất đáng quý. Trước hết, ông là vị quan thanh liêm, nhân hậu, luôn quan tâm đến đời sống nhân dân. Khi thấy dân làng khổ sở vì nạn trộm cắp vặt, Văn Tư Lập vô cùng lo lắng, tự nhận lỗi về mình vì “ở vào địa vị một viên ấp tể” mà để dân không yên ổn làm ăn. Ông đã cho dân làng canh gác, mời thầy phù thủy về trấn yểm, song nạn trộm cắp vẫn không thuyên giảm. Không bỏ cuộc, ông tìm đến Vương tiên sinh xin bói toán, rồi tích cực làm theo lời chỉ dẫn để tìm người tài trừ nạn yêu quái. Chính nhờ sự giúp sức của người săn bắn kia mà dân chúng thoát khỏi nạn trộm cắp hoành hành. Qua những việc làm ấy, Văn Tư Lập hiện lên là người sâu sát thực tế, biết lo cho dân, có trách nhiệm với công việc và có tầm nhìn khi biết trọng dụng người tài để mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân.
Fhhhb