Nguyễn Thị Đài Trang
Giới thiệu về bản thân
câu 1 : thể thơ tự do
câu 2 : lời trực tiếp
câu 3 : Hệ thống từ láy được sử dụng phong phú và hiệu quả trong việc miêu tả tâm trạng, cảnh vật.
câu 4 : Thuý Kiều cảm thấy thương xót, đau đớn và đồng cảm sâu sắc trước số phận bi kịch của Đạm Tiên.
câu 5 : Bài học rút ra là cần biết đồng cảm, sẻ chia và trân trọng cuộc sống hiện tại.
câu 1 : thể thơ : lục bát
câu 2 : lời dẫn trực tiếp
câu 3 : Hệ thống từ láy giúp tăng tính gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, làm nổi bật khung cảnh thanh minh vắng vẻ, lạnh lẽo, đồng thời bộc lộ tâm trạng buồn bã, xót xa của nhân vật.
câu 4 : Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thuý Kiều cảm thấy thương xót, ngậm ngùi và đồng cảm sâu sắc. Điều này cho thấy Thuý Kiều là một người con gái có tấm lòng nhân hậu, vị tha, giàu tình thương người và có sự nhạy cảm đặc biệt trước những số phận bất hạnh.
câu 5 : Bài học rút ra là cần biết đồng cảm, sẻ chia và trân trọng giá trị con người, không nên đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài hay số phận nhất thời.
câu 1 :
Đoạn thơ trích từ tác phẩm "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du, thể hiện cảnh Thúy Kiều khóc than và dặn dò Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.Tâm trạng đau khổ, bẽ bàng: Kiều bày tỏ nỗi "niềm tây" (nỗi lòng thầm kín, đau đớn) với Kim Trọng. Nàng cảm thấy phận mình "mỏng như tờ", đã "lỗi tóc tơ với chàng" vì không giữ được lời thề ước.Sự hiếu thảo và tình thế éo le: Gặp "cơn gia biến lạ dường", Kiều buộc phải "bán mình" để cứu cha. Hành động này thể hiện sự hiếu thảo tột cùng, đặt chữ hiếu lên trên chữ tình.Lời dặn dò, ủy thác: Trong hoàn cảnh "dùng dằng khi bước chân ra", Kiều đã "mượn con em nó Thúy Vân thay lời", nhờ Vân nối duyên với Kim Trọng để giữ trọn lời thề.Nỗi sầu muôn đời: Kiều nhấn mạnh "sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên", thể hiện nỗi đau đớn, day dứt khôn nguôi vì phải phụ tình lang.Thể thơ lục bát: Đoạn thơ sử dụng thể thơ lục bát truyền thống, nhịp nhàng, dễ đi vào lòng người.Ngôn ngữ giàu cảm xúc: Sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm, thể hiện rõ tâm trạng bi thương, day dứt của nhân vật ("khóc than", "biết nỗi", "phận mỏng như tờ", "cực trăm nghìn nỗi", "sầu này dằng dặc").Biện pháp tu từ:So sánh: "phận mỏng như tờ" làm nổi bật sự mỏng manh, yếu đuối của Kiều trước số phận.Điệp từ, điệp ngữ: "lời", "nỗi", "dùng dằng" nhấn mạnh sự day dứt, khó khăn trong quyết định của Kiều.Xây dựng nhân vật nội tâm: Đoạn thơ tập trung miêu tả diễn biến tâm lí phức tạp, giằng xé của Thúy Kiều, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn hiếu thảo, vị tha và giàu tình nghĩa của nàng.Đoạn trích trên là một ví dụ điển hình cho tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du trong việc khắc họa tâm lý nhân vật và sử dụng ngôn từ. Qua lời độc thoại nội tâm đầy xót xa của Thúy Kiều, người đọc cảm nhận sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ và thân phận đầy bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nghệ thuật miêu tả cảm xúc tinh tế, ngôn ngữ giàu sức gợi cùng điển tích, điển cố được sử dụng khéo léo đã góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm, khiến đoạn thơ trở thành một trong những áng văn bất hủ về tình người và nỗi đau thân phận.
câu 2 :
Tâm hồn chính là ý thức tư tưởng nội tại của con người, giống như nhận thức, quan niệm, động cơ lý tưởng... Tâm hồn của một con người tốt đẹp hay xấu xa là điều vô cùng quan trọng. Tấm lòng lương thiện, chính nghĩa mới có thể đồng tình thương cảm, vì việc công không vì tư lợi, coi việc giúp người là niềm vui, lập trường kiên định, lý tưởng cao đẹp, vì nước vì dân, có chí vươn lên trong cuộc sống. Chính từ những biểu hiện tốt đẹp của mỗi con người ta mới có thể nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của họ. Vì vậy không chỉ nói tầm quan trọng của tâm hồn một cách cô lập. Bởi tâm hồn vốn là một từ vô hình, nếu không thông qua các hoạt động cảm tính như ngôn ngữ, hành động, tình cảm, thực tiễn xã hội... sẽ không thể hiểu nó một cách chính xác. Đồng thời, biểu hiện tâm hồn của con người không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau, có kẻ bề ngoài đường hoàng chững chạc nhưng đầu óc đen tối, có người có những ước mơ tốt đẹp, nhưng lại không có đủ nghị lực để thực hiện nó. Nếu nhìn một cách cô lập, trên phương diện nào đó có thể phù hợp với đẹp hoặc thiện nhưng thực tế không phải thế, thậm chí hoàn toàn ngược lại. vẻ đẹp và cái thiện chân chính phải hài hoà giữa biểu hiện bề ngoài với nội tâm, lời nói và việc làm phải nhất trí cao độ, lý luận phải đi đôi với thực tiễn. Một biểu hiện bề ngoài tao nhã tương ứng với bản chất nội tại chân thật không thể tự nhiên mà có được mà là kết quả của sự tu dưỡng của cá nhân cộng với ảnh hưởng cũa môi trường xã hội, giáo dục. Ví dụ một vận động viên biểu diễn thể dục, hoặc bằng nghệ thuật cao siêu, hoặc bằng những tư thế đẹp, hoặc bằng động tác linh lợi cương cường khiến khán giả nhìn thấy được sức sống vẻ đẹp trí tuệ, cơ bắp, tình cảm của mình và khán giả được hưởng thụ cái đẹp. Vẻ khoẻ đẹp này, nếu không có sự nghiêm túc học hỏi của cá nhân, sự khổ công rèn luyện, sự giúp đỡ của thầy, của bạn thì liệu có đạt được chăng?
câu 1 : Văn bản "Kim Trọng tìm Kiều" kể về việc Kim Trọng trở về và tìm đến nhà Thuý Kiều sau nửa năm xa cách, nhưng chỉ thấy cảnh hoang tàn, vắng vẻ, và sau đó biết tin gia đình Kiều đã gặp biến cố và Kiều đã phải bán mình chuộc cha.
câu 2 : Một số hình ảnh thơ tả thực bao gồm "nền cũ lâu đài" với "mấy gian nhà cỏ", "bóng chiều", "ngọn lúa", "mảnh trăng", "nước chảy", "hoa trôi".
câu 3 : Cảm xúc của Kim Trọng là sự ngạc nhiên, hụt hẫng, đau đớn và xót xa tột cùng khi chứng kiến cảnh nhà Kiều hoang vắng, tiêu điều, không một bóng người, hoàn toàn trái ngược với khung cảnh sum vầy, hạnh phúc mà chàng mong đợi.
câu 4 :
- bptt : điệp ngữ ( càng )
-tác dụng : Nhấn mạnh, tô đậm mức độ tăng tiến của cảm xúc đau khổ, dằn vặt trong lòng Kim Trọng.Diễn tả nội tâm phức tạp, vừa thương xót cho Kiều, vừa tức tối, xót xa cho chính mình và hoàn cảnh.Góp phần thể hiện sâu sắc tình cảm mãnh liệt, thủy chung của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều.
câu 5 : Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều là tình yêu chân thành, sâu sắc, thủy chung và mãnh liệt. Sự bàng hoàng, đau xót khi thấy nhà Kiều tan hoang: "Hương xưa vương vấn, phúc đâu thấy người".Nỗi nhớ nhung da diết: "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng".Sự căm phẫn, tức tối trước bất công: "Gan càng tức tối, ruột càng xót xa".Quyết tâm tìm kiếm người yêu: "Chàng càng thêm tức thêm dầy / Giang sơn bể rộng biết đâu tìm người".
Câu 1 :
- Thể thơ : thơ nôm
Câu 2 :
-Các nhân vật xuất hiện trong văn bản bao gồm Tống Trân, Cúc Hoa và mẹ chồng của Cúc Hoa.
Câu 3 :
-Hoàn cảnh sống của Tống Trân và Cúc Hoa hiện lên đầy khó khăn, nghèo khổ.
Câu 4 :
- Thông qua mối quan hệ với mẹ chồng, Cúc Hoa thể hiện phẩm chất hiếu thảo và thủy chung.
Câu 5 :
- Ước mơ "bảng vàng rồng mây" trong lời khấn nguyện của Cúc Hoa thể hiện mong muốn, khát vọng của nhân dân về sự đỗ đạt, thành danh và thay đổi số phận.
câu 1:
Nhân vật Cúc Hoa trong truyện "Tống Trân - Cúc Hoa" được xây dựng với những phẩm chất tốt đẹp, là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Nàng là một người con dâu hiếu thảo, hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng khi Tống Trân vắng nhà. Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, thậm chí bị mẹ chồng hắt hủi, Cúc Hoa vẫn một lòng hiếu nghĩa, không hề oán than.Bên cạnh đó, Cúc Hoa còn là một người vợ thủy chung, son sắt. Nàng luôn tin tưởng và chờ đợi chồng dù cho Tống Trân đi sứ nhiều năm. Sự kiên định, bền bỉ của nàng đã giúp Tống Trân vượt qua mọi gian nan, thử thách và cuối cùng hai người được đoàn tụ. Cúc Hoa cũng là người phụ nữ giàu lòng nhân ái, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn. Nàng đã nhiều lần cứu giúp những người nghèo khổ, hoạn nạn, thể hiện tấm lòng nhân hậu, bao dung.Tóm lại, nhân vật Cúc Hoa là hình mẫu lí tưởng của người phụ nữ Việt Nam xưa: hiếu thảo, thủy chung, giàu lòng nhân ái và có nghị lực phi thường. Nàng là nguồn động viên, là hậu phương vững chắc để Tống Trân lập nên những chiến công hiển hách.
Câu 2 :
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, "Tống Trân - Cúc Hoa" là một câu chuyện cảm động về tình yêu, lòng hiếu thảo và ý chí vượt khó. Vượt qua bao gian truân, hai vợ chồng Tống Trân và Cúc Hoa đã đồng lòng nuôi dưỡng khát vọng học tập và xây dựng tương lai tươi sáng. Từ câu chuyện ấy, chúng ta nhận ra ý nghĩa sâu sắc của việc không nản lòng trước khó khăn trên hành trình phát triển bản thân. Không nản lòng trước khó khăn là một phẩm chất quý báu, là ngọn lửa thắp sáng con đường đi tới thành công. Khi đối diện với thử thách, người có ý chí kiên cường sẽ không bỏ cuộc mà biến khó khăn thành động lực. Họ hiểu rằng thất bại không phải là dấu chấm hết mà là cơ hội để học hỏi, rút kinh nghiệm và trưởng thành hơn. Nhờ vậy, họ trở nên bản lĩnh, vững vàng hơn trong cuộc sống. Để rèn luyện ý chí, nghị lực, chúng ta cần thực hiện những hành động cụ thể. Trước hết, hãy xác định mục tiêu rõ ràng và lập kế hoạch chi tiết để đạt được nó. Sau đó, hãy chia nhỏ mục tiêu thành các bước nhỏ để dễ dàng thực hiện và tạo động lực. Khi gặp thất bại, hãy nhìn nhận nó một cách tích cực, coi đó là bài học quý giá. Đồng thời, hãy tìm kiếm sự động viên, hỗ trợ từ những người xung quanh. Cuối cùng, đừng quên rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần để có đủ sức mạnh vượt qua mọi trở ngại.Câu chuyện "Tống Trân - Cúc Hoa" là một minh chứng sống động cho sức mạnh của ý chí và nghị lực. Việc không nản lòng trước khó khăn không chỉ giúp chúng ta đạt được thành công mà còn định hình nên một con người bản lĩnh, kiên cường. Hãy rèn luyện phẩm chất này để mỗi chúng ta đều có thể viết nên câu chuyện thành công của chính mình.