Nguyễn Phương Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Phương Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Trong đoạn trích "Truyện Kiều", nhân vật Đạm Tiên hiện lên là biểu tượng cho bi kịch "tài hoa bạc mệnh" đầy xót xa. Từng là một ca nhi nổi danh "tài sắc một thì", nàng sống trong sự ngưỡng mộ với cảnh "xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh". Thế nhưng, cuộc đời rực rỡ ấy lại ngắn ngủi như "gãy cành thiên hương" giữa lúc "nửa chừng xuân". Sự đối lập nghiệt ngã giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại với nấm mồ "sè sè", "hương khói vắng tanh" khiến người đọc không khỏi bàng hoàng. Hình ảnh "dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh" chứng minh sự vô tình của người đời và sự phũ phàng của thời gian đối với một kiếp hồng nhan. Đạm Tiên không chỉ là một cái tên riêng biệt, nàng đại diện cho số phận chung của người phụ nữ trong xã hội cũ – những người mà "lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Qua nhân vật này, Nguyễn Du thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc khi cất lên tiếng khóc thương cho giá trị cái đẹp bị vùi dập. Đạm Tiên chính là chiếc gương soi dự báo cho chính cuộc đời đầy giông bão của Thúy Kiều sau này. Hình ảnh ấy mãi ám ảnh, khơi gợi lòng trắc ẩn sâu sắc trong trái tim độc giả bao thế hệ.

Câu 2:

Trong kỷ nguyên số năm 2026, mạng xã hội đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, sự bùng nổ của nó cũng kéo theo những hệ lụy khi nhiều học sinh quá sa đà vào thế giới ảo, dẫn đến sao nhãng học tập và thiếu trách nhiệm. Để không trở thành "nô lệ" của công nghệ, mỗi chúng ta cần xây dựng cho mình phương pháp sử dụng mạng xã hội lành mạnh và hiệu quả. Trước hết, yếu tố then chốt chính là khả năng quản lý thời gian. Thay vì để các thuật toán dẫn dắt một cách vô định, mỗi học sinh cần thiết lập khung giờ sử dụng internet cụ thể. Việc ưu tiên cho nhiệm vụ học tập và các hoạt động thể chất thực tế giúp chúng ta thoát khỏi sự cám dỗ của những video ngắn vô bổ, từ đó lấy lại sự tập trung và tính kỷ luật vốn có. Thứ hai, chúng ta phải trở thành những người dùng thông thái thông qua việc chọn lọc nội dung. Mạng xã hội thực chất là một "thư viện khổng lồ" nếu ta biết khai thác. Thay vì theo dõi những trào lưu tiêu cực, hãy chủ động tìm kiếm các nhóm học thuật, các kênh chia sẻ kỹ năng mềm hoặc tin tức chính thống. Khi biến mạng xã hội thành công cụ để trau dồi kiến thức, chúng ta đã tự tạo cho mình một môi trường phát triển lành mạnh và tiến bộ. Bên cạnh đó, văn hóa ứng xử trên không gian mạng cũng là điều cần được lưu tâm. Mỗi cá nhân cần có trách nhiệm với từng bài đăng, từng dòng bình luận của mình. Hãy lan tỏa năng lượng tích cực, sự tử tế và tuyệt đối nói không với bạo lực ngôn từ hay tin giả. Việc duy trì sự tỉnh táo giúp chúng ta bảo vệ bản thân và cộng đồng trước những cạm bẫy khó lường của internet. Cuối cùng, không gì có thể thay thế được sự gắn kết trong đời thực. Thay vì chỉ tương tác qua màn hình điện thoại, hãy dành thời gian trò chuyện với gia đình và bạn bè. Việc thực hiện trách nhiệm với những người xung quanh giúp chúng ta cân bằng giữa cuộc sống ảo và giá trị thực, làm giàu thêm tâm hồn mình. Tóm lại, mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Sử dụng nó hiệu quả không phải là từ bỏ hoàn toàn, mà là học cách làm chủ nó bằng bản lĩnh và trí tuệ. Mỗi học sinh hãy là một "công dân số" có trách nhiệm để biến mạng xã hội thành bệ phóng vươn tới tương lai thành công.

Câu 1: văn bản trên thuộc thể loại Thơ lục bát

Câu 2: Kiểu lời thoại trong hai dòng thơ trên là đối thoại : Cụ thể, đây là lời của nhân vật Thúy Kiều nói với các em (Vương Quan và Thúy Vân) khi nhìn thấy ngôi mộ vô chủ của Đạm Tiên. Sau câu hỏi này, Vương Quan đã đáp lại bằng cách kể cho Kiều nghe về cuộc đời của nàng ca nhi bạc mệnh.

Câu 3:

1.Các từ láy xuất hiện trong văn bản:

a)Tả cảnh: Sè sè, dầu dầu, lờ mờ, vắng tanh (tính từ mang sắc thái láy). b)Tả âm thanh/không khí: Xôn xao. c)Tả tâm trạng/hành động: Sắm sanh, dầm dầm, đau đớn.

2.Nhận xét về giá trị sử dụng: - Khắc họa khung cảnh hiu quạnh: a)Từ láy "Sè sè" gợi hình ảnh nấm mồ thấp bé, cô đơn, nằm sát mặt đất, tạo cảm giác bị bỏ rơi. b)"Dầu dầu" không chỉ tả màu cỏ héo úa mà còn nhuốm màu bi thương của tâm trạng người nhìn. c)"Lờ mờ" diễn tả sự tàn phai của thời gian, dấu vết ngựa xe một thời rực rỡ giờ đã bị rêu phong che khuất.

- Tái hiện sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại: a)Từ "Xôn xao" gợi lại thời kỳ hoàng kim, tấp nập khách khứa của Đạm Tiên, đối lập hoàn toàn với cái "vắng tanh" của hiện tại nơi mộ phần.

- Bộc lộ xúc cảm mãnh liệt của nhân vật: a)"Dầm dầm" mô tả dòng nước mắt tuôn rơi không dứt, cho thấy sự đồng cảm sâu sắc của Thúy Kiều. b)"Đau đớn" nhấn mạnh nỗi xót xa tột cùng trước kiếp người "hồng nhan bạc mệnh". - Tạo nhạc tính: Các từ láy giúp câu thơ lục bát trở nên uyển chuyển, nhịp nhàng, tạo âm hưởng trầm buồn, da diết cho toàn bộ đoạn trích.

* Kết luận: Hệ thống từ láy là công cụ đắc lực giúp Nguyễn Du thực hiện bút pháp tả cảnh ngụ tình, làm cho nỗi buồn từ cảnh vật thấm sâu vào tâm hồn người đọc.

Câu 4:

- Tâm trạng và cảm xúc của Thúy Kiều:

a)Xót thương, đồng cảm sâu sắc: Khi nghe về cuộc đời "ca nhi" tài sắc nhưng bạc mệnh của Đạm Tiên, Kiều không kìm được xúc động, nước mắt rơi "dầm dầm châu sa". b)Đau đớn, thảng thốt: Nàng thốt lên lời than: "Đau đớn thay phận đàn bà!". Đây không chỉ là sự thương xót cho Đạm Tiên mà còn là nỗi đau trước quy luật nghiệt ngã của xã hội: người phụ nữ có tài, có sắc thường gặp định mệnh trớ trêu ("Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"). c)Sự liên cảm (trông người lại ngẫm đến ta): Kiều nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong tương lai qua nấm mồ vô chủ của Đạm Tiên. Nàng cảm thấy sự mong manh của kiếp người và sự bất công của tạo hóa.

- Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái:

a)Có tâm hồn đa sầu, đa cảm: Nàng dễ rung động, dễ mủi lòng trước những cảnh ngộ bi thương, dù đó là người hoàn toàn xa lạ và đã khuất từ lâu. b)Giàu lòng nhân ái, vị tha: Trong khi người đời có thể coi rẻ thân phận "ca nhi" (kỹ nữ), thì Kiều lại trân trọng và khóc thương cho họ. Nàng vượt qua những định kiến khắt khe của xã hội để nhìn nhận giá trị con người. c)Có trí tuệ và sự nhạy cảm về thân phận: Thúy Kiều không chỉ thương cảm một cách cảm tính mà còn nhận ra bi kịch chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Điều này cho thấy nàng là một cô gái có chiều sâu tâm hồn và khả năng thấu thị về cuộc đời.

* Tóm lại: Qua thái độ trước mộ Đạm Tiên, Nguyễn Du đã xây dựng hình ảnh Thúy Kiều là một nhân vật có trái tim nhân hậu bậc nhất, là biểu tượng của lòng trắc ẩn và sự đồng cảm giữa những con người cùng cảnh ngộ.

Câu 5:

- Biết thấu hiểu và sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh a)Bài học: Đừng thờ ơ trước nỗi đau của người khác, dù họ là ai hay có địa vị thế nào trong xã hội. b)Vì sao: Thúy Kiều đã khóc cho Đạm Tiên – một người xa lạ, một "ca nhi" bị xã hội bấy giờ coi rẻ. Hành động của Kiều dạy ta rằng giá trị của một con người không nằm ở danh tiếng hay tiền bạc, mà nằm ở sự tử tế và lòng nhân ái mà chúng ta dành cho nhau khi hoạn nạn hoặc ngay cả khi họ đã khuất.

- Trân trọng giá trị con người và vẻ đẹp của tâm hồn a)Bài học: Cần có cái nhìn bao dung, trân trọng tài năng và nhân phẩm của người khác, đặc biệt là những người yếu thế (như người phụ nữ trong xã hội cũ). b)Vì sao: Sự xúc động của Kiều ("Đau đớn thay phận đàn bà") cho thấy nàng trân trọng cái đẹp và tài năng bị vùi dập. Trong cuộc sống hiện đại năm 2026, dù xã hội đã công bằng hơn, nhưng lòng trân trọng những giá trị tinh thần vẫn là sợi dây gắn kết con người lại với nhau.

- Nhận thức về sự vô thường của cuộc đời để sống có ý nghĩa hơn a)Bài học: Hiểu rằng cuộc đời vốn mong manh ("nửa chừng xuân", "thỏ lặn ác tà") để từ đó sống trọn vẹn và yêu thương nhiều hơn. b)Vì sao: Hình ảnh nấm mồ vô chủ của Đạm Tiên nhắc nhở chúng ta rằng thời gian và định mệnh có thể thay đổi mọi thứ. Khi nhận thức được điều này, chúng ta sẽ biết trân trọng những người xung quanh và sống một cuộc đời có ích, để không bao giờ phải rơi vào cảnh "hương khói vắng tanh" về mặt tâm hồn.

* Kết luận: Bài học từ Nguyễn Du nhắc nhở chúng ta rằng: Lòng nhân hậu là vẻ đẹp cao quý nhất của con người. Sống biết thương người cũng chính là cách để làm giàu cho tâm hồn mình.

Kim Lân là nhà văn chuyên viết​ truyện ngắn cua nền văn học hiện đại Việt Nam. Với vốn am hiểu sâu sắc và gắn bó với nông thôn và người nông dân nên truyện của ông thường xoay quanh những nét sinh hoạt , cảnh ngộ phong tục truyền thống của người nông dân Bắc Bộ. Nguyên Hồng nhận xét : Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với " đất " với " người " với " thuần hậu nguyên thủy " của cuộc sống nông thôn . Truyện ngắn " làng " (1948) là một minh chứng tiêu biểu cho lời nhận xét đó của Nguyên Hồng. Bằng việc khai thác đề tài tình yêu làng , lòng yêu nước , tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư qua nhân vật ông Hai , Kim Lân đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo , nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sinh động bằng một thứ ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lấy ăn tiếng nói hàng ngày của người nông dân

Trước hết , truyện ngắn " Làng " đã được Kim Lân xây dựng trên tình huống gay cấn để bộc lộ tình yêu làng , tình yêu đất nước sâu sắc ở nhân vật ông Hai. Đó là tin làng ông theo giặc lập tề mà chính ông nghe được từ miệng của những người tản cư dưới xuôi lên. Tình huống đấy đã đẩy câu chuyện vào chỗ thắt nút khi mà ông Hai - một con người vốn yêu làng , luôn khoe và hãnh diện về làng thì nay lại tin là theo giặc. Vì thế ông đau đớn , xót xa và cảm thấy tủi hổ, bẽ bàng. Trong thế giới nội tâm nhân vật có sự đấu tranh xung đột giữa tình yêu làng và tình yêu nước mà tình cảm nào cũng mãnh liệt , song tình yêu nước , tinh thần kháng chiến rộng lớn , bao trùm lên tình yêu làng. Nhưng cuối cùng , cũng từ tình huống đấy đã mở nút cho cô chuyện khi mà không nhận được tin cải chính về làng. Tình huống này đã khẳng định không Hai bà làng chợ Dầu luôn trung thành tuyệt đối với kháng chiến với cụ Hồ , với dân tộc.

Cũng qua thì huống truyện người đọc còn nhận ra tài năng khắc họa , miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo của nhà văn Kim Lân qua nhân vật ông Hai. Có thể nói , dưới tác động của tình huống , sự việc khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc , lí nhân vật ông Hai đã có những diễn biến phức tạp và nhà văn đã trực tiếp nhập vào vai nhân vật , để nói bằng tiếng nói nhân vật mô tả sự giằng xé trong thế giới nội tâm với những mâu thuẫn , xung đột gay gắt , dữ dội. Cũng như biết bao người quê khác , ông Hai gắn bó sâu nặng với nơi chôn rau cắt rốn của mình - làng chợ Dầu. Tình yêu của ông ấy thật đặc biệt biểu hiện của nét tâm lý đó là luôn tự hào và thích khoe về làng.Nhưng có một sự kiện bất ngờ đã xảy ra với ông , từ phòng thông tin bước ra đang rất phấn khởi , náo nức vì những tin vui của kháng chiến , gặp người tản từ , nghe nói tên làng ông Hai quay phắt lại , lắp bắp hỏi , hi vọng được nghe những tin tốt lành về làng , nào ngờ lại hay tin : Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại , da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi , tưởng như không thở được." Từ niềm vui , niềm tin hi vọng , ai rơi xuống vực thẳm đau buồn , xót xa , tuyệt vọng. Ông cố gắng trấn tĩnh bản thân và tìm cách lảng ra về muốn che giấu đi tâm trạng ấy nhưng nối tủi hủ , bẽ bàng lo lắng khiến ông "cúi gằm mặt mà đi " , còn văng vẳng tiếng chửi " giống Việt gian bán nước "

Khi về đến nhà , ông Hai nằm vật ra giường rồi tủi thân khi nhìn đàn con nhỏ :" nước mắt ông lão cứ giàn ra ". Những dòng độc thoại nội tâm trong ông thể hiện lối day dứt , đau đớn "chúng nó cũng là trẻ con làng Việt ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...”. Ông căm giận lũ người theo giặc, phản bội làng nước, ông lão nắm chặt hai tay mà rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Nhưng sau đó, ông lại cảm thấy “ngờ ngợ” như lời của mình không được đúng lắm. Niềm tin và nỗi thất vọng đang giằng xé trong ông. “Ông kiểm điểm từng người trong óc” thấy họ đều là những người có tinh thần kháng chiến, một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy được. Trong hoàn cảnh giặc giã thì tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp; còn phản bội là điều xấu xa ô nhục nhất. Vì thế từ khi nghe tin làng mình theo giặc, nó đã trở thành nỗi ám ảnh, day dứt trong tâm trí của ông, khiến ông ba bốn hôm nay không dam bước chân ra đến ngoài. Suốt ngày chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng binh tình. “Một đám đông túm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng nói xa xa ông cũng chột dạ”, lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý , đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”; cứ thoáng nghe những tiếng Tây, cam nhông , Việt gian là ông lại lủi thủi ra một góc nhà nín thít… “Thôi lại chuyện ấy rồi!”. Ông luôn thu mình lại, cảm thấy xấu hổ, đau xót và dường như cảm thấy chính mình cũng có tội vậy. Ông rời vào tình trạng tuyệt vọng khi mà bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi vì “nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng chợ Dầu khỏi vùng này, không cho ở nữa”. Ông Hai không biết đi đâu, cũng không thể quay lại trở về làng vì về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, “về làng tức là chụy quay lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Trong ông Hai diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt và dứt khoát lựa chọn theo cách của mình “Làng thì yêu thật những làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Tình yêu nước đã bao trùm lên tình yêu làng. Song ông không thể vứt bỏ tình yêu làng nên ông Hai càng đau xót, tủi hổ. Trong tâm trạng bị dồn nén, không biết giải tỏa như thế nào, ông Hai chỉ còn biết trút lòng mình với đứa con nhỏ. Cuộc đối thoại giữa ông và đứa con trai đã bộc lộ thật cảm động tấm lòng gắn bó sâu sắc với làng quê, với đất nước và với kháng chiến của ông Hai. Ông nói với con mà như tự nói với chính mình, tự mình oan, tự chiêu tuyết cho mình. Đoạn thoại, vừa chất chứa nỗi đau đớn, xót xa, lại vừa thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt với kháng chiến, với cách mạng, với cụ Hồ. Quảng cáo Có lẽ, nếu không nhận được tin cải chính thì cả đời ông Hai sẽ chết dần, chết mòn trong nỗi đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng về cái làng của mình mất. Những sau đó, chính quyền làng ông đã lên cải chính cái tin làng chợ Dầu theo giặc. Nhận được tin, ông Hai như sống lại, niềm vui tràn ngập trong ông: quần áo chỉnh tề, mặt tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy, nói bô bô, mua quà cho các con…. Đặc biệt là hành động ông chạy đi khoe với tất cả mọi người cái tin vui ấy. Niềm vui sướng, hạnh phúc dâng trào khiến ông cứ múa tay lên mà khoe. Và lạ thay, câu đầu tiên ông khoe không phải là việc làng ông không theo giặc mà là “Tây nó đốt nhà tôi rồi… đốt nhẵn!”. Với người nông dân, căn nhà là cả cơ nghiệp của họ mà cả đời họ làm lụng vất vả mới có được. Nhưng ông Hai không hề tiếc căn nhà của mình bởi nó là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc và trên hết là nó như là sự “đóng góp” của gia đình ông với kháng chiến. Điều đó, một lần nữa càng khẳng định rõ ràng hơn tình yêu làng, tình yêu nước và sự trung thành với kháng chiến ở ông Hai. Đến đây, chúng ta thấy được sức sáng tạo độc đáo của Kim Lân trong nghệ thuật tạo tình huống, thực sự gay cấn, kịch tính với những thử thách của nội tâm nhân vật, từ đó bộc lộ chiều sâu đời sống bên trong, tình cảm, tư tưởng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, rất cụ thể, gợi cảm qua thế giới nội tâm với các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ. Đặc biệt, nhà văn đã diễn tả rất đúng, rất ấn tượng về sự ám ảnh day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc con người và những nét tâm lí vôn có của người nông dân Việt Nam sau lũy tre làng. Thông qua tác phẩm, người đọc còn nhận ra ngôn ngữ của truyện rất đặc sắc, nhất là ngôn ngữ nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của ông Hai, dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ ba. Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại vừa mang đậm cá tính của nhân vật, rất sinh động, chân thực, gần gũi. Tóm lại, "Làng" của Kim Lân là một truyện ngắn đặc sắc, khai thác một tình cảm bao trùm và phổ biến trong con người thời kháng chiến: tình yêu quê hương, đất nước; trong đó, nhân vật ông Hai là nhân vật có tính chất đại diện điển hình cho nét tâm lí, tình cảm đó của người nông dân Việt Nam trong thời kì tiến công cách. mạng. Qua tác phẩm chúng ta thấy được tài năng độc đáo trong nghệ thuật tạo tình huống, xây dựng hình tượng nhân vật có tính chất đại diện điển hình với thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, sinh động; ngôn ngữ truyện mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống, xen lẫn giữa độc thoại và đối thoại đan xen... tất cả đã làm nên sự thành công độc đáo, hấp dẫn cho thiên truyện ngắn .

Người bà mẹ Việt Nam anh hùng hiện lên với hình ảnh kiên cường , bất khuất sắn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cách mạng .

Thể hiện nỗi đau , lòng căm thù của con người đối với quân giặc khi mẹ đã hi sinh và sự quyết tâm kế thừa tinh thần bất khuất của mẹ .