Trần Minh Anh
Giới thiệu về bản thân
Question 1:
He asked the villagers how often earthquakes occurred in that region.
They told me (that) I could find a wide range of beauty products in their store.
Floods are one of the most common natural disasters in Vietnam, especially in the central provinces. They usually occur from August to November due to heavy rains and storms. When floods happen, water levels in rivers rise rapidly, submerging houses, roads, and crops. This causes serious damage to property and threatens people's lives. To minimize the risks, the government often builds dykes and provides early warnings. Local people should also prepare emergency kits and follow evacuation orders to stay safe during the flood season.
Question 1: I think robots can’t replace the role of teachers in education. Question2: People will still send letters to each other in 2050.
Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ tiêu biệu của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn của ông không đơn thuần chỉ là nơi gửi gắm, kí thác tâm sự, nỗi niềm riêng tư mà còn là những mũi tên sắt tên đồng được tôi nhuyễn trong nỗi đau đời bắn thăng vào cái xã hội thối nát đương thời. “Đất Vị Hoàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu của Trần Tế Xương mang giọng điệu trào phúng sâu cay. Nhà thơ đã thể hiện thái độ phẫn uất, bất bình của mình trước những đổi thay ghê gớm làm mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp ngay trên quê hương Vị Hoàng của mình.
Là người con của đất thành Nam, nổi tiếng về tài thơ phú và cũng từng được biết đến là nhà thơ lận đận nhất trên con đường thi cử, học hành “tám lần không khỏi phạm trường quy”. Thơ Tú Xương có hai màng: trào phúng và trữ tình. “Đất Vị Hoàng" thuộc máng thơ trào phúng. Bài thơ được viết bằng thể TNBC Đường luật quen thuộc của VH trung đại.
Hai câu đầu diễn tả cảm xúc của nhà thơ trước sự thay đổi về không gian địa lí của quê hương.
“Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông”Câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ bộc lộ nỗi xót xa của nhà thơ trước hiện trạng đáng buồn của quê hương. Câu thơ thứ hai nói rõ hơn về sự thay đổi về không gian địa lí của làng quê Vị Hoàng: Từ một vùng quê yên binh, tĩnh lặng ven sông đẹp đẽ, thơ mộng; giờ đây Vị Hoàng đã trở thành “phố phường" xô bồ, nhộn nhạo. Câu thơ nói lên cái bất thường (phố giáp sông) để người đọc thấy sự thay đổi chóng vánh của mảnh đất Vị Hoàng xưa và nay. Mảnh đất đó trở nên phồn vinh hơn khi thành “phố phường" nhưng nó đâu còn là của nhân dân nữa mà đã trở thành chốn chơi bời của thực dân Pháp. Rồi từ đây, chính cái thay đổi về không gian địa lí đó sẽ từ tử, âm thầm kéo theo những thay đổi xót xa về những giá trị đạo đức truyền thống đã được vun đắp ngàn đời.
Bốn câu tiếp miêu tả bức tranh Vị Hoàng buổi giao thời với sự xuống cấp của đạo đức
“Nhà kia lỗi phép con khinh bổ,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Keo cú người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thờ rặt hơi đồng
Tác giả đi sâu hơn vào trong lòng cải xã hội Vị Hoàng buổi giao thời đó, ông như một vị thầy thuốc bắt mạch tìm ra những căn bệnh trầm kha trên cái cơ thể đầy ung nhọt của xã hội giao thời. Đó là sự xuống cấp trầm trọng đến mức thảm hại, đau đớn về nền nếp phong hóa. Bằng thủ pháp đổi cùng bút pháp tả thực, nhà thơ đã lật tẩy sự xuống cấp về đạo đức xã hội đã len lỏi vào từng gia đình: Nhà kia lỗi phép con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.Xã hội Việt Nam xưa đến nay vẫn coi trong chữ hiểu, coi đó là đạo lí ngàn đời nay. Vậy mà hỡi ôi sao lại có cảnh con cái dám chửi lại bố mẹ, dám khinh thường bố mẹ. Câu thơ thứ 3 khiến người dọc như hiểu được một phần nào đó giá trị đạo đức chuẩn mực đạo đức khi đó đã không còn nữa. Trong quan hệ vợ chồng theo đạo Nho thi “phu xướng phụ tùy" (tức là chồng nói, vợ nghe theo, làm theo), đó là đạo lí trong quan hệ vợ chồng để giữ cho gia đình hòa thuận, êm ấm. Hơn nữa, trong xã hội Việt Nam vốn đề cao tiết hạnh của người phụ nữ, đó là công - dung- ngôn hạnh, là “xuất giá tòng phu”, tức sống phải phép với chồng, cũng là trụ cột của gia đình. Nhưng phải chăng khi lối sống mới được đưa vào thì mọi thứ đều bị đảo ngược, nếu con khinh cha mất đi cái nề nếp, gia giáo thì “vợ chửi chồng” lại là sự đổ vỡ của mô hình gia đình trong xã hội. Một gia đình không có sự kính trọng của con cái với bố mẹ, người vợ lấn quyền, chanh chua thì gia đình ấy cũng chỉ là tồn tại cưỡng ép trên hình thức mà thôi.
Hai câu thực đã bổ sung cho nhau làm rõ hơn hiện trạng những mối quan hệ rường cột trong bức tranh xã hội Vị Hoàng đương thời - không hề có một tôn ti trật tự nào, bao cảnh sai trái với luân thường đạo lí bày ra trước mắt người đọc về một vùng đất có những bất ổn về cảnh đời, nó đang dồn nén và làm xấu đi một vùng đất đã từng rất tươi đẹp. Từ sự xuống cấp đạo đức trong các quan hệ gia đình đã kéo theo những thay đổi trong quan hệ người – người ở ngoài xã hội:
“Keo củ người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng”
Xã hội đảo lộn buổi đương thời ấy đã đẻ ra lắm “quái thai”, đó là những loại người “tham lam” và “keo cứ". “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt" sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là “chuyện thở rặt hơi đồng". Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ rất tài tỉnh: “thở” chứ không phải “nói” bởi “thở” phải đi liền với “hơi" – “hơi đồng”, tiền bạc. Những kẻ này chỉ sống vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ rất có giá trị thẩm mỹ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo củ.
Như vậy, bốn câu thơ giữa đã lên án mạnh mẽ cái xã hội kệch cỡm, thối nát đương thời bằng những từ thông tục, ở đó các giá trị đạo đức trong gia đình bị đào lộn, con người sống với nhau không còn bằng tình nghĩa, yêu thương nữa mà khô cứng, vô tình, vụ lợi. Đằng sau những lời thơ, người đọc nhận ra thái độ phẫn uất, xót xa của Trần Tế Xương trước thói đời đen bạc.
Hai câu cuối: Là lời nhắn hỏi xót xa của nhà thơ
“Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,
Có đất nào như đất ấy không?”
Một lần nữa câu hỏi ở đầu bài thơ xuất hiện ở hai câu kết; không còn là sự lên án nữa là là sự trăn trở, đau đớn đến bất lực. Nơi quê hương thân yêu của nhà thơ bị biến đổi đến không còn nhận ra, đối với một con người suốt đời gần bỏ với quê hương như nhà thơ mà nói thì đó là mất mát không có từ ngữ nào có thể diễn tar.
Bài thơ là nỗi đau đớn, chua xót của một nhà thơ luôn thiết tha với những giá trị truyền thống tốt đẹp nay lại phải tận mắt chứng kiến sự băng hoại của những giá trị trị ấy, từ đó gián tiếp phê phán cái XH thối nát, xấu xa. Giọng điệu thơ khi gay gắt, quyết liệt, lúc chua xót, nghẹn ngào; ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi; cách cấu tử độc đáo mở đầu và kết thúc bài thơ đều là câu hỏi tu từ khiến lời thơ cứ đau đáu, day dứt mãi khôn nguôn...
Thơ Trần Tế Xương là vậy, luôn lấp lánh một nét tâm trạng, một cái gì đáng phải suy ngẫm. Chính điều đó làm nên giá trị và khiến cho thơ ông mãi trường sinh. Năm tháng đi qua, thơ văn của ông càng được thời gian mài sáng thêm, và bài thơ “Đất Vị Hoàng” là một bài thơ như thế. Những nỗi niềm ưu ái, khắc khoải dưới cái vỏ bọc cay độc, dữ dẫn càng được người đọc các thế hệ cảm thông, thấu hiểu cặn kẽ hơn theo thời
Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ tiêu biệu của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn của ông không đơn thuần chỉ là nơi gửi gắm, kí thác tâm sự, nỗi niềm riêng tư mà còn là những mũi tên sắt tên đồng được tôi nhuyễn trong nỗi đau đời bắn thăng vào cái xã hội thối nát đương thời. “Đất Vị Hoàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu của Trần Tế Xương mang giọng điệu trào phúng sâu cay. Nhà thơ đã thể hiện thái độ phẫn uất, bất bình của mình trước những đổi thay ghê gớm làm mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp ngay trên quê hương Vị Hoàng của mình.
Là người con của đất thành Nam, nổi tiếng về tài thơ phú và cũng từng được biết đến là nhà thơ lận đận nhất trên con đường thi cử, học hành “tám lần không khỏi phạm trường quy”. Thơ Tú Xương có hai màng: trào phúng và trữ tình. “Đất Vị Hoàng" thuộc máng thơ trào phúng. Bài thơ được viết bằng thể TNBC Đường luật quen thuộc của VH trung đại.
Hai câu đầu diễn tả cảm xúc của nhà thơ trước sự thay đổi về không gian địa lí của quê hương.
“Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông”Câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ bộc lộ nỗi xót xa của nhà thơ trước hiện trạng đáng buồn của quê hương. Câu thơ thứ hai nói rõ hơn về sự thay đổi về không gian địa lí của làng quê Vị Hoàng: Từ một vùng quê yên binh, tĩnh lặng ven sông đẹp đẽ, thơ mộng; giờ đây Vị Hoàng đã trở thành “phố phường" xô bồ, nhộn nhạo. Câu thơ nói lên cái bất thường (phố giáp sông) để người đọc thấy sự thay đổi chóng vánh của mảnh đất Vị Hoàng xưa và nay. Mảnh đất đó trở nên phồn vinh hơn khi thành “phố phường" nhưng nó đâu còn là của nhân dân nữa mà đã trở thành chốn chơi bời của thực dân Pháp. Rồi từ đây, chính cái thay đổi về không gian địa lí đó sẽ từ tử, âm thầm kéo theo những thay đổi xót xa về những giá trị đạo đức truyền thống đã được vun đắp ngàn đời.
Bốn câu tiếp miêu tả bức tranh Vị Hoàng buổi giao thời với sự xuống cấp của đạo đức
“Nhà kia lỗi phép con khinh bổ,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Keo cú người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thờ rặt hơi đồng
Tác giả đi sâu hơn vào trong lòng cải xã hội Vị Hoàng buổi giao thời đó, ông như một vị thầy thuốc bắt mạch tìm ra những căn bệnh trầm kha trên cái cơ thể đầy ung nhọt của xã hội giao thời. Đó là sự xuống cấp trầm trọng đến mức thảm hại, đau đớn về nền nếp phong hóa. Bằng thủ pháp đổi cùng bút pháp tả thực, nhà thơ đã lật tẩy sự xuống cấp về đạo đức xã hội đã len lỏi vào từng gia đình: Nhà kia lỗi phép con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.Xã hội Việt Nam xưa đến nay vẫn coi trong chữ hiểu, coi đó là đạo lí ngàn đời nay. Vậy mà hỡi ôi sao lại có cảnh con cái dám chửi lại bố mẹ, dám khinh thường bố mẹ. Câu thơ thứ 3 khiến người dọc như hiểu được một phần nào đó giá trị đạo đức chuẩn mực đạo đức khi đó đã không còn nữa. Trong quan hệ vợ chồng theo đạo Nho thi “phu xướng phụ tùy" (tức là chồng nói, vợ nghe theo, làm theo), đó là đạo lí trong quan hệ vợ chồng để giữ cho gia đình hòa thuận, êm ấm. Hơn nữa, trong xã hội Việt Nam vốn đề cao tiết hạnh của người phụ nữ, đó là công - dung- ngôn hạnh, là “xuất giá tòng phu”, tức sống phải phép với chồng, cũng là trụ cột của gia đình. Nhưng phải chăng khi lối sống mới được đưa vào thì mọi thứ đều bị đảo ngược, nếu con khinh cha mất đi cái nề nếp, gia giáo thì “vợ chửi chồng” lại là sự đổ vỡ của mô hình gia đình trong xã hội. Một gia đình không có sự kính trọng của con cái với bố mẹ, người vợ lấn quyền, chanh chua thì gia đình ấy cũng chỉ là tồn tại cưỡng ép trên hình thức mà thôi.
Hai câu thực đã bổ sung cho nhau làm rõ hơn hiện trạng những mối quan hệ rường cột trong bức tranh xã hội Vị Hoàng đương thời - không hề có một tôn ti trật tự nào, bao cảnh sai trái với luân thường đạo lí bày ra trước mắt người đọc về một vùng đất có những bất ổn về cảnh đời, nó đang dồn nén và làm xấu đi một vùng đất đã từng rất tươi đẹp. Từ sự xuống cấp đạo đức trong các quan hệ gia đình đã kéo theo những thay đổi trong quan hệ người – người ở ngoài xã hội:
“Keo củ người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng”
Xã hội đảo lộn buổi đương thời ấy đã đẻ ra lắm “quái thai”, đó là những loại người “tham lam” và “keo cứ". “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt" sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là “chuyện thở rặt hơi đồng". Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ rất tài tỉnh: “thở” chứ không phải “nói” bởi “thở” phải đi liền với “hơi" – “hơi đồng”, tiền bạc. Những kẻ này chỉ sống vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ rất có giá trị thẩm mỹ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo củ.
Như vậy, bốn câu thơ giữa đã lên án mạnh mẽ cái xã hội kệch cỡm, thối nát đương thời bằng những từ thông tục, ở đó các giá trị đạo đức trong gia đình bị đào lộn, con người sống với nhau không còn bằng tình nghĩa, yêu thương nữa mà khô cứng, vô tình, vụ lợi. Đằng sau những lời thơ, người đọc nhận ra thái độ phẫn uất, xót xa của Trần Tế Xương trước thói đời đen bạc.
Hai câu cuối: Là lời nhắn hỏi xót xa của nhà thơ
“Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,
Có đất nào như đất ấy không?”
Một lần nữa câu hỏi ở đầu bài thơ xuất hiện ở hai câu kết; không còn là sự lên án nữa là là sự trăn trở, đau đớn đến bất lực. Nơi quê hương thân yêu của nhà thơ bị biến đổi đến không còn nhận ra, đối với một con người suốt đời gần bỏ với quê hương như nhà thơ mà nói thì đó là mất mát không có từ ngữ nào có thể diễn tar.
Bài thơ là nỗi đau đớn, chua xót của một nhà thơ luôn thiết tha với những giá trị truyền thống tốt đẹp nay lại phải tận mắt chứng kiến sự băng hoại của những giá trị trị ấy, từ đó gián tiếp phê phán cái XH thối nát, xấu xa. Giọng điệu thơ khi gay gắt, quyết liệt, lúc chua xót, nghẹn ngào; ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi; cách cấu tử độc đáo mở đầu và kết thúc bài thơ đều là câu hỏi tu từ khiến lời thơ cứ đau đáu, day dứt mãi khôn nguôn...
Thơ Trần Tế Xương là vậy, luôn lấp lánh một nét tâm trạng, một cái gì đáng phải suy ngẫm. Chính điều đó làm nên giá trị và khiến cho thơ ông mãi trường sinh. Năm tháng đi qua, thơ văn của ông càng được thời gian mài sáng thêm, và bài thơ “Đất Vị Hoàng” là một bài thơ như thế. Những nỗi niềm ưu ái, khắc khoải dưới cái vỏ bọc cay độc, dữ dẫn càng được người đọc các thế hệ cảm thông, thấu hiểu cặn kẽ hơn theo thời
Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ tiêu biệu của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn của ông không đơn thuần chỉ là nơi gửi gắm, kí thác tâm sự, nỗi niềm riêng tư mà còn là những mũi tên sắt tên đồng được tôi nhuyễn trong nỗi đau đời bắn thăng vào cái xã hội thối nát đương thời. “Đất Vị Hoàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu của Trần Tế Xương mang giọng điệu trào phúng sâu cay. Nhà thơ đã thể hiện thái độ phẫn uất, bất bình của mình trước những đổi thay ghê gớm làm mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp ngay trên quê hương Vị Hoàng của mình.
Là người con của đất thành Nam, nổi tiếng về tài thơ phú và cũng từng được biết đến là nhà thơ lận đận nhất trên con đường thi cử, học hành “tám lần không khỏi phạm trường quy”. Thơ Tú Xương có hai màng: trào phúng và trữ tình. “Đất Vị Hoàng" thuộc máng thơ trào phúng. Bài thơ được viết bằng thể TNBC Đường luật quen thuộc của VH trung đại.
Hai câu đầu diễn tả cảm xúc của nhà thơ trước sự thay đổi về không gian địa lí của quê hương.
“Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông”Câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ bộc lộ nỗi xót xa của nhà thơ trước hiện trạng đáng buồn của quê hương. Câu thơ thứ hai nói rõ hơn về sự thay đổi về không gian địa lí của làng quê Vị Hoàng: Từ một vùng quê yên binh, tĩnh lặng ven sông đẹp đẽ, thơ mộng; giờ đây Vị Hoàng đã trở thành “phố phường" xô bồ, nhộn nhạo. Câu thơ nói lên cái bất thường (phố giáp sông) để người đọc thấy sự thay đổi chóng vánh của mảnh đất Vị Hoàng xưa và nay. Mảnh đất đó trở nên phồn vinh hơn khi thành “phố phường" nhưng nó đâu còn là của nhân dân nữa mà đã trở thành chốn chơi bời của thực dân Pháp. Rồi từ đây, chính cái thay đổi về không gian địa lí đó sẽ từ tử, âm thầm kéo theo những thay đổi xót xa về những giá trị đạo đức truyền thống đã được vun đắp ngàn đời.
Bốn câu tiếp miêu tả bức tranh Vị Hoàng buổi giao thời với sự xuống cấp của đạo đức
“Nhà kia lỗi phép con khinh bổ,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Keo cú người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thờ rặt hơi đồng
Tác giả đi sâu hơn vào trong lòng cải xã hội Vị Hoàng buổi giao thời đó, ông như một vị thầy thuốc bắt mạch tìm ra những căn bệnh trầm kha trên cái cơ thể đầy ung nhọt của xã hội giao thời. Đó là sự xuống cấp trầm trọng đến mức thảm hại, đau đớn về nền nếp phong hóa. Bằng thủ pháp đổi cùng bút pháp tả thực, nhà thơ đã lật tẩy sự xuống cấp về đạo đức xã hội đã len lỏi vào từng gia đình: Nhà kia lỗi phép con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.Xã hội Việt Nam xưa đến nay vẫn coi trong chữ hiểu, coi đó là đạo lí ngàn đời nay. Vậy mà hỡi ôi sao lại có cảnh con cái dám chửi lại bố mẹ, dám khinh thường bố mẹ. Câu thơ thứ 3 khiến người dọc như hiểu được một phần nào đó giá trị đạo đức chuẩn mực đạo đức khi đó đã không còn nữa. Trong quan hệ vợ chồng theo đạo Nho thi “phu xướng phụ tùy" (tức là chồng nói, vợ nghe theo, làm theo), đó là đạo lí trong quan hệ vợ chồng để giữ cho gia đình hòa thuận, êm ấm. Hơn nữa, trong xã hội Việt Nam vốn đề cao tiết hạnh của người phụ nữ, đó là công - dung- ngôn hạnh, là “xuất giá tòng phu”, tức sống phải phép với chồng, cũng là trụ cột của gia đình. Nhưng phải chăng khi lối sống mới được đưa vào thì mọi thứ đều bị đảo ngược, nếu con khinh cha mất đi cái nề nếp, gia giáo thì “vợ chửi chồng” lại là sự đổ vỡ của mô hình gia đình trong xã hội. Một gia đình không có sự kính trọng của con cái với bố mẹ, người vợ lấn quyền, chanh chua thì gia đình ấy cũng chỉ là tồn tại cưỡng ép trên hình thức mà thôi.
Hai câu thực đã bổ sung cho nhau làm rõ hơn hiện trạng những mối quan hệ rường cột trong bức tranh xã hội Vị Hoàng đương thời - không hề có một tôn ti trật tự nào, bao cảnh sai trái với luân thường đạo lí bày ra trước mắt người đọc về một vùng đất có những bất ổn về cảnh đời, nó đang dồn nén và làm xấu đi một vùng đất đã từng rất tươi đẹp. Từ sự xuống cấp đạo đức trong các quan hệ gia đình đã kéo theo những thay đổi trong quan hệ người – người ở ngoài xã hội:
“Keo củ người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng”
Xã hội đảo lộn buổi đương thời ấy đã đẻ ra lắm “quái thai”, đó là những loại người “tham lam” và “keo cứ". “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt" sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là “chuyện thở rặt hơi đồng". Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ rất tài tỉnh: “thở” chứ không phải “nói” bởi “thở” phải đi liền với “hơi" – “hơi đồng”, tiền bạc. Những kẻ này chỉ sống vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ rất có giá trị thẩm mỹ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo củ.
Như vậy, bốn câu thơ giữa đã lên án mạnh mẽ cái xã hội kệch cỡm, thối nát đương thời bằng những từ thông tục, ở đó các giá trị đạo đức trong gia đình bị đào lộn, con người sống với nhau không còn bằng tình nghĩa, yêu thương nữa mà khô cứng, vô tình, vụ lợi. Đằng sau những lời thơ, người đọc nhận ra thái độ phẫn uất, xót xa của Trần Tế Xương trước thói đời đen bạc.
Hai câu cuối: Là lời nhắn hỏi xót xa của nhà thơ
“Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,
Có đất nào như đất ấy không?”
Một lần nữa câu hỏi ở đầu bài thơ xuất hiện ở hai câu kết; không còn là sự lên án nữa là là sự trăn trở, đau đớn đến bất lực. Nơi quê hương thân yêu của nhà thơ bị biến đổi đến không còn nhận ra, đối với một con người suốt đời gần bỏ với quê hương như nhà thơ mà nói thì đó là mất mát không có từ ngữ nào có thể diễn tar.
Bài thơ là nỗi đau đớn, chua xót của một nhà thơ luôn thiết tha với những giá trị truyền thống tốt đẹp nay lại phải tận mắt chứng kiến sự băng hoại của những giá trị trị ấy, từ đó gián tiếp phê phán cái XH thối nát, xấu xa. Giọng điệu thơ khi gay gắt, quyết liệt, lúc chua xót, nghẹn ngào; ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi; cách cấu tử độc đáo mở đầu và kết thúc bài thơ đều là câu hỏi tu từ khiến lời thơ cứ đau đáu, day dứt mãi khôn nguôn...
Thơ Trần Tế Xương là vậy, luôn lấp lánh một nét tâm trạng, một cái gì đáng phải suy ngẫm. Chính điều đó làm nên giá trị và khiến cho thơ ông mãi trường sinh. Năm tháng đi qua, thơ văn của ông càng được thời gian mài sáng thêm, và bài thơ “Đất Vị Hoàng” là một bài thơ như thế. Những nỗi niềm ưu ái, khắc khoải dưới cái vỏ bọc cay độc, dữ dẫn càng được người đọc các thế hệ cảm thông, thấu hiểu cặn kẽ hơn theo thời
A healthy lifestyle, encompassing a balanced diet and regular exercise, significantly reduces the risk of chronic diseases such as obesity, diabetes, and heart disease. It also leads to increased energy levels and improved physical fitness. Mentally, healthy habits can enhance mood, reduce stress, and improve cognitive function. By prioritizing health, individuals can enjoy a longer, more active life and feel their best every day.
1, If you don’t drink more water, you will get more acne.
2, My sister wants to go to Sa Pa to see the terraced fields.
3, Unless he spends time on his phone, he will complete his work.
1,The Muong earn a living by farming and raising animals.
2, They are in the habit of exercising after work.
1,The Muong earn a living by farming and raising animals.
2, They are in the habit of exercising after work.