Nguyễn Thị Phương Thủy
Giới thiệu về bản thân
Vietnam is frequently affected by typhoons, which usually occur between June and November. These powerful tropical storms bring heavy rainfall and violent winds, particularly to the central and northern coastal regions. When a typhoon hits, it often leads to severe flooding and landslides, causing significant damage to homes, crops, and infrastructure. To minimize the impact, the government and local citizens strictly monitor weather forecasts and prepare by reinforcing houses or evacuating high-risk areas. Despite these challenges, the resilience of the Vietnamese people remains strong as they work together to recover after every storm.
Question 1: He asked the villagers how often earthquakes occurred in that region.
Question 2: They told me (that) I could find a wide range of beauty products in their store.
Question 1: I think robots can’t replace the role of teachers in education.
Question 2: People will still send letters to each other in 2050.
a. Một số chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam (1897–1914)
1. Về kinh tế
- Nông nghiệp:
- Cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền (trồng cao su, cà phê, chè…).
- Công nghiệp:
- Tập trung khai thác mỏ than, thiếc, kẽm…
- Chỉ phát triển công nghiệp nhẹ, phục vụ chính quốc (không xây dựng công nghiệp nặng).
- Thương nghiệp:
- Độc chiếm thị trường, đánh thuế nặng hàng hóa nước khác.
- Giao thông vận tải:
- Xây dựng đường sắt, đường bộ, cảng biển để phục vụ khai thác và vận chuyển tài nguyên.
2. Về tài chính – thuế khóa
- Đặt ra nhiều loại thuế nặng: thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện…
- Tăng cường bóc lột nhân dân để thu lợi nhuận tối đa.
3. Về chính trị
- Thi hành chính sách cai trị chuyên chế, chia nước ta thành 3 kỳ (Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì) để dễ quản lí.
- Đàn áp các phong trào yêu nước.
4. Về văn hóa – xã hội
- Thi hành chính sách ngu dân, hạn chế giáo dục.
- Duy trì các hủ tục lạc hậu để dễ cai trị.
a. Các bộ phận của vùng biển Việt Nam
Vùng biển Việt Nam được chia thành 5 bộ phận:
- Nội thủy
- Là vùng nước nằm phía trong đường cơ sở.
- Được xem như lãnh thổ trên đất liền, Nhà nước có chủ quyền hoàn toàn.
- Lãnh hải
- Rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở ra phía biển.
- Nhà nước có chủ quyền đầy đủ về mọi mặt.
- Vùng tiếp giáp lãnh hải
- Rộng 12 hải lí tiếp theo lãnh hải.
- Có quyền kiểm soát về hải quan, thuế, nhập cư, y tế…
- Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)
- Rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở.
- Việt Nam có quyền chủ quyền về khai thác tài nguyên (cá, dầu khí, năng lượng…).
- Thềm lục địa
- Là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển kéo dài tự nhiên của lục địa.
- Có quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, dầu khí…
b. Ý nghĩa của phát triển tổng hợp kinh tế biển
Đối với kinh tế:
- Khai thác hiệu quả tài nguyên biển (hải sản, dầu khí, du lịch…).
- Thúc đẩy nhiều ngành phát triển: giao thông vận tải biển, du lịch, nuôi trồng thủy sản…
- Tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Đối với an ninh – quốc phòng:
- Khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
- Tăng cường sự hiện diện của con người trên biển và đảo.
- Góp phần giữ vững an ninh, ổn định và bảo vệ lãnh thổ quốc gia.
Truyện ngắn "Trở về" của Thạch Lam không chỉ ghi dấu ấn bởi phong cách viết giàu chất trữ tình mà còn chứa đựng bài học nhân văn sâu sắc. Đoạn trích tràn đầy cảm xúc, tập trung miêu tả cuộc trở về thăm mẹ của nhân vật Tâm - một câu chuyện thấm đẫm tình cảm gia đình nhưng lại chất chứa những khoảng cách và vô cảm.
Ngay từ đầu đoạn trích, tác giả đã khéo léo xây dựng bối cảnh làng quê nghèo nàn, với căn nhà cũ kĩ, mái gianh xơ xác, như một sự phản chiếu chân thực về cuộc sống của người mẹ già. Bà là hiện thân của sự hy sinh thầm lặng, suốt đời tần tảo vì con, nhưng đổi lại, bà chỉ nhận được sự xa cách, lạnh lùng từ người con trai. Cuộc gặp gỡ đầy xúc động khi “bà cụ ứa nước mắt” nhận ra con trai, càng khiến người đọc chạnh lòng bởi niềm vui của bà không được trọn vẹn. Thái độ của Tâm - cộc lốc, hời hợt - dường như vô tình giẫm lên lòng yêu thương chân thành của người mẹ già.
Đoạn trích nhấn mạnh vào sự đối lập trong cảm xúc của hai nhân vật chính: bà mẹ và Tâm. Người mẹ, dù đã già nua và yếu đuối, vẫn luôn dành sự ân cần chăm sóc, lo lắng cho con. Những câu hỏi như “Năm ngoái bác Cả lên tỉnh bảo cậu ốm, tôi lo quá…” là biểu hiện rõ nét của tình mẫu tử ấm áp. Trái ngược với đó, Tâm chỉ trả lời qua loa, lãnh đạm và không mảy may để tâm đến những gì mẹ nói. Sự thờ ơ của anh là minh chứng cho những giá trị bị mai một nơi con người sống trong nhịp sống vội vã của thành phố.
Hình ảnh nhân vật Tâm còn được khắc họa rõ hơn qua hành động vội vã rời đi, mang theo vẻ tự mãn khi để lại số tiền cho mẹ. Tiền bạc, dẫu lớn lao, không thể bù đắp cho tình cảm đã bị rạn nứt, càng khiến nỗi cô đơn của bà mẹ thêm rõ ràng. Chi tiết “bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt” đã nói lên tất cả sự đau lòng và bất lực của một người mẹ đối với đứa con trai xa cách cả về tình cảm lẫn tâm hồn.
Bút pháp trữ tình của Thạch Lam trong đoạn trích này được thể hiện qua những hình ảnh tinh tế, giàu sức gợi. Tác giả không cần dùng những lời lẽ hoa mỹ, mà chỉ qua những chi tiết giản dị như tiếng guốc thong thả hay sự ẩm thấp của căn nhà, đã dựng lên một bức tranh chân thực về cuộc sống khó khăn, cô quạnh của bà mẹ già. Đồng thời, cảm giác lạnh lẽo thấm vào người nhân vật Tâm cũng là một ẩn dụ, gợi sự lạnh nhạt, vô cảm trong mối quan hệ mẹ con.
Qua đoạn trích, Thạch Lam gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: Tình yêu thương gia đình là giá trị thiêng liêng, không thể thay thế bằng tiền bạc hay vật chất. Những người con, dù đi xa đến đâu, cũng không nên quên đi nguồn cội, nơi có những bàn tay luôn chờ đợi và trái tim luôn mong nhớ. Tác phẩm khơi dậy trong lòng người đọc sự đồng cảm với bà mẹ già và nhắc nhở về trách nhiệm của con người.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
- Người bộc lộ cảm xúc: nhân vật “tôi” (tác giả).
- Cuộc gặp gỡ: giữa “tôi” và một bà mẹ nông dân nghèo ven đồng chiêm.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ: so sánh (“hơi ấm hơn nhiều chăn đệm”).
- Tác dụng: làm nổi bật giá trị ấm áp đặc biệt của ổ rơm, không chỉ là cái ấm vật chất mà còn là hơi ấm tình người, giản dị mà sâu sắc.
Câu 4.
Hình ảnh “ổ rơm” là hình ảnh giản dị, mộc mạc nhưng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc:
- Gợi lên cuộc sống nghèo khó của người nông dân.
- Đồng thời thể hiện tình người ấm áp, chân thành, giàu lòng yêu thương.
Câu 5.
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là: ca ngợi tình người ấm áp, nghĩa tình giản dị trong cuộc sống nghèo khó.
Câu 6.
Bài thơ “Hơi ấm ổ rơm” để lại trong em nhiều xúc động sâu sắc. Hình ảnh bà mẹ nghèo tuy thiếu thốn nhưng vẫn hết lòng chăm lo cho người khách lạ khiến em cảm nhận rõ vẻ đẹp của tình người. Ổ rơm đơn sơ mà lại ấm áp hơn cả chăn đệm, bởi trong đó chứa đựng sự sẻ chia chân thành. Qua bài thơ, em hiểu rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở vật chất mà ở tình cảm con người dành cho nhau. Những điều giản dị đôi khi lại mang ý nghĩa lớn lao. Bài thơ giúp em biết trân trọng hơn những tấm lòng tốt xung quanh mình.
Trần Tế Xương là nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Thơ ông nổi bật bởi tiếng cười sắc sảo, thâm thúy, vừa mang tính giải trí vừa chứa đựng ý nghĩa phê phán xã hội sâu cay. Bài thơ “Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, qua đó tác giả đả kích những kẻ học giả, khoe mẽ, làm lố trong xã hội đương thời.
Ngay từ hai câu thơ đầu, Trần Tế Xương đã đặt ra một câu hỏi mang tính mỉa mai:
“Hỏi thăm quê quán ở nơi mô?
Không học mà sao cũng gọi đồ?”
Danh xưng “ông đồ” vốn dùng để chỉ những người có chữ nghĩa, học hành đàng hoàng, nhưng ở đây lại được đặt trong sự hoài nghi, châm chọc. Cách hỏi tưởng như vô tư nhưng thực chất là phủ nhận tư cách của nhân vật, cho thấy sự “hữu danh vô thực”, chỉ có cái mác mà không có nội dung.
Bốn câu thơ tiếp theo tiếp tục đẩy cao giọng điệu trào phúng:
“Ý hẳn người yêu mà gọi thế,
Hay là mẹ đẻ đặt tên cho!”
Tác giả giả vờ suy đoán nguồn gốc cái tên “đồ”, nhưng càng suy đoán lại càng lột trần sự lố bịch. Những cách gọi ấy hoàn toàn đời thường, thậm chí tầm thường, nhằm hạ thấp nhân vật, biến danh xưng vốn đáng kính trở thành trò cười. Tiếng cười ở đây vừa hóm hỉnh vừa cay độc, thể hiện thái độ khinh miệt của tác giả.
Không chỉ giễu về danh xưng, Trần Tế Xương còn phơi bày sự giả tạo trong hình thức và bản chất của nhân vật. Câu thơ “Áo quần đĩnh đạc trông ra cậu” cho thấy vẻ ngoài ra dáng trí thức, lịch sự, nhưng ngay sau đó là sự đối lập:
“Ăn nói nhề nhàng nhác giọng Ngô.”
Cách ăn nói lơ lớ, thiếu chuẩn mực đã tố cáo bản chất kệch cỡm, học đòi, không có nền tảng học vấn thật sự. Thủ pháp tương phản giữa vẻ ngoài và lời nói làm nổi bật sự giả dối, khoác lác của nhân vật bị giễu.
Hai câu thơ cuối là đỉnh điểm của tiếng cười châm biếm:
“Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt,
Mũi nó gồ gồ, trán nó giô.”
Sự thật về thân phận nhân vật được phơi bày: chỉ là một người buôn bán tầm thường nhưng lại cố khoác lên mình vỏ bọc trí thức. Những nét tả ngoại hình thô kệch càng làm cho nhân vật trở nên lố bịch, đáng cười. Qua đó, Trần Tế Xương không chỉ cười một cá nhân mà còn phê phán cả một lớp người trong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến, nơi những giá trị thật bị đảo lộn, kẻ giả danh lại dễ dàng được tung hô.
Như vậy, bài thơ “Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt” là một tác phẩm trào phúng đặc sắc, thể hiện rõ tài năng và bản lĩnh của Trần Tế Xương. Qua tiếng cười sắc bén, nhà thơ đã phê phán thói học giả, khoe mẽ, đồng thời bộc lộ thái độ bất bình trước sự xuống cấp của đạo đức và văn hóa xã hội đương thời. Tiếng cười ấy không chỉ để mua vui mà còn mang giá trị phê phán sâu sắc, khiến người đọc phải suy ngẫm.
Tinh thần yêu nước của em được thể hiện trước hết qua việc chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành người công dân có ích cho xã hội. Em luôn cố gắng tìm hiểu lịch sử dân tộc, trân trọng và tự hào về những truyền thống tốt đẹp của đất nước. Trong cuộc sống hằng ngày, em thực hiện nghiêm túc nội quy nhà trường, chấp hành pháp luật và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng. Em cũng có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan nơi công cộng. Trong tương lai, em sẽ tiếp tục học tập, trau dồi tri thức và kỹ năng để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bài thơ bộc lộ nỗi đau xót, thương cảm sâu sắc của tác giả trước cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân rơi vào cảnh tan tác, lầm than. Qua những hình ảnh “bỏ nhà”, “lơ xơ chạy”, “dáo dác bay”, tác giả khắc họa rõ sự hoảng loạn, mất mát của người dân vô tội trong chiến tranh, từ đó lên án tội ác của kẻ thù xâm lược.
Đồng thời, bài thơ còn thể hiện lời tố cáo và phê phán gay gắt triều đình phong kiến cùng những kẻ có trách nhiệm bảo vệ đất nước nhưng lại bất lực, thờ ơ, để nhân dân phải gánh chịu đau khổ. Câu hỏi tu từ ở cuối bài là tiếng kêu uất nghẹn, thể hiện nỗi phẫn uất trước cảnh “dân đen mắc nạn”.
Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp về trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác trước họa xâm lăng, đồng thời nhắc nhở những người cầm quyền phải đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết.