Phạm Bùi Khánh Quỳnh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Du là bậc đại thi hào với kiệt tác Truyện Kiều, tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Đoạn trích trên khắc họa hình tượng Thúy Kiều – người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng chịu nhiều truân chuyên, qua đó bộc lộ vẻ đẹp nhân cách cao quý. Trước hết, ta thấy Kiều là người con hiếu thảo, sẵn sàng bán mình chuộc cha để giữ trọn đạo làm con. Nàng đặt chữ “hiếu” lên hàng đầu, hy sinh cả tình duyên và hạnh phúc riêng. Không chỉ vậy, Thúy Kiều còn là người giàu đức hy sinh và lòng vị tha. Nàng chấp nhận đánh đổi tương lai tươi đẹp với Kim Trọng để cứu gia đình khỏi cảnh lao lý, cho thấy sự cao cả và trái tim nhân hậu. Từ đó, hình ảnh Thúy Kiều hiện lên vừa bi thương, vừa tỏa sáng vẻ đẹp của một người phụ nữ sống vì người khác. Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế, ngôn ngữ giàu sức gợi của Nguyễn Du đã làm cho nhân vật sống mãi trong lòng người đọc. Qua Thúy Kiều, Nguyễn Du gửi gắm thông điệp về số phận bất hạnh của người phụ nữ phong kiến, đồng thời ngợi ca phẩm chất hiếu nghĩa, thủy chung.
Câu 2:“Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.” Lời Bác Hồ như một lời nhắc nhở rằng thế hệ trẻ chính là niềm tin và tương lai của dân tộc. Nhưng để tuổi trẻ thật sự có ý nghĩa, mỗi người cần nuôi dưỡng cho mình một lý tưởng sống cao đẹp. Lý tưởng ấy giống như ngọn đèn soi đường, dẫn dắt con người đi đúng hướng và thôi thúc chúng ta vươn lên trong cuộc sống hôm nay.
Lý tưởng có thể hiểu là mục tiêu cao cả, khát vọng lớn lao mà con người khao khát hướng đến và kiên trì theo đuổi. Đối với thế hệ trẻ, lý tưởng không chỉ gói gọn trong ước mơ cho riêng mình, mà còn gắn với trách nhiệm đối với gia đình, cộng đồng và đất nước. Người trẻ có lý tưởng sẽ sống có định hướng, biết phấn đấu, dám hành động và dũng cảm cống hiến. Ngược lại, một cuộc đời thiếu lý tưởng chẳng khác nào con thuyền trôi dạt giữa biển khơi, dễ lạc lối trước sóng gió cuộc đời.
Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, lý tưởng của thanh niên không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm sự ổn định cho bản thân, mà còn gắn liền với khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Đó có thể là ước mơ nghiên cứu khoa học để tạo ra phát minh hữu ích, là khát vọng khởi nghiệp để làm giàu chính đáng và cống hiến cho xã hội, hay là tinh thần tình nguyện góp sức cho cộng đồng. Lý tưởng cũng có thể giản dị nhưng vô cùng cao quý: sống tử tế, biết yêu thương và dám đấu tranh vì điều đúng đắn.
Thực tế, nhiều tấm gương đã chứng minh sức mạnh của lý tưởng. Trong những ngày đại dịch Covid-19, biết bao bạn trẻ khoác áo xanh tình nguyện đã không quản hiểm nguy, miệt mài trên tuyến đầu để hỗ trợ y tế, tiếp tế lương thực cho nhân dân. Hay những trí thức trẻ Việt Nam ghi dấu trên bản đồ khoa học thế giới với các công trình nghiên cứu đột phá. Lại có những doanh nhân trẻ dám khởi nghiệp, đưa thương hiệu Việt vươn xa. Họ chính là minh chứng hùng hồn rằng: tuổi trẻ khi có lý tưởng sẽ làm nên điều phi thường.
Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận giới trẻ sống mờ nhạt, thiếu lý tưởng, chạy theo vật chất phù phiếm hoặc đắm chìm trong thế giới ảo. Một số người trở nên vô cảm trước những vấn đề của xã hội, sống buông thả, thiếu trách nhiệm với chính bản thân mình. Đó là lối sống đáng lo ngại, bởi một tuổi trẻ thiếu lý tưởng sẽ để lại sự trống rỗng, nhạt nhòa và vô nghĩa.
Từ đây, thế hệ trẻ cần nhận thức rõ: lý tưởng không phải điều xa xôi, mà bắt đầu từ việc đặt ra mục tiêu sống nhân văn, có ích, rồi từng ngày nỗ lực thực hiện. Để nuôi dưỡng lý tưởng, thanh niên cần trau dồi tri thức, rèn luyện bản lĩnh, giữ gìn lòng tự trọng và khát vọng cống hiến. Quan trọng hơn, phải dũng cảm vượt qua thử thách, tránh xa lối sống ảo tưởng và hưởng thụ.
Lý tưởng chính là ánh sáng dẫn đường. Mỗi người trẻ hãy tự hỏi: “Tôi sống để làm gì, để cống hiến cho ai?” Khi tìm ra câu trả lời, ta sẽ hiểu ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Có thể khẳng định rằng, một thế hệ trẻ giàu lý tưởng sẽ là bảo chứng cho một tương lai bền vững của dân tộc. Bởi lẽ, tuổi trẻ có lý tưởng mới thực sự là tuổi trẻ đáng sống, và cũng chính từ lý tưởng ấy mà đất nước được tiếp thêm sức mạnh để vươn xa, vươn cao cùng nhân loại.
Câu 1: Văn bản được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2: Đoạn trích kể về cảnh chia tay đầy lưu luyến, buồn thương giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh khi Thúc Sinh phải trở về với gia đình, để lại Kiều trong nỗi cô đơn và tủi phận.
Câu 3:”Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”
Biện pháp tu từ : Đối lập “Người về – kẻ đi”, “chiếc bóng năm canh – muôn dặm xa xôi”.
Ẩn dụ :”Chiếc bóng năm canh” gợi sự cô đơn, trống trải.
Tác dụng +)Nhấn mạnh sự chia lìa, xa cách, nỗi cô đơn của cả hai nhân vật.
+)Gợi nỗi buồn sầu, thấm đẫm bi kịch tình duyên trong hoàn cảnh éo le.
Câu 4: Cảm hứng chủ đạo của văn bản là nỗi đau chia ly, thân phận bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc cho những kiếp người nhỏ bé.
Câu 5:Cảnh chia tay của Kiều và Kim Trọng”.
Lý do: Nhan đề khái quát đúng nội dung đoạn trích, thể hiện tình cảm gắn bó, lưu luyến nhưng cũng đầy bi cảm khi đôi lứa phải tạm xa nhau.Trong đoạn trích, hình tượng Thúy Kiều hiện lên với tình yêu tha thiết, sự thủy chung son sắt và tâm hồn giàu đức hy sinh. Trước lúc chia tay, nàng dặn dò Kim Trọng hãy vững bước trên con đường công danh, coi trọng việc lớn hơn tình riêng. Lời khuyên của Kiều vừa thể hiện sự hiểu biết, vừa cho thấy nàng là người biết hi sinh tình cảm cá nhân để ủng hộ chí hướng của người mình yêu. Bên cạnh đó, Kiều còn bộc lộ nỗi buồn chia ly da diết: những lời dặn dò, những giọt lệ nghẹn ngào, những thao thức trong cảnh “người về chiếc bóng năm canh, kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi” đều cho thấy tấm lòng gắn bó khôn nguôi của nàng đối với Kim Trọng. Qua đoạn thơ, Nguyễn Du đã khắc họa thành công một Thúy Kiều thông minh, tinh tế, giàu đức hi sinh nhưng cũng đầy bi cảm trong tình yêu. Hình tượng Kiều không chỉ gợi xúc động cho người đọc về một mối tình chân thành mà còn thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của Truyện Kiều – ca ngợi tình yêu chân chính, thủy chung và những hi sinh cao đẹp của con người.
X = y , x + y = 0
Câu 1:
Nhân vật anh gầy trong văn bản "Anh béo và anh gầy" của Sê-khốp thể hiện rõ nét những mâu thuẫn và phức tạp trong tâm lý con người trước sự thành công của người khác. Khi gặp lại anh béo, ban đầu anh gầy tỏ ra vui mừng, nhưng sự ngạc nhiên của anh nhanh chóng chuyển thành hoang mang khi biết bạn mình đã thăng tiến lên chức viên chức bậc ba. Sự thay đổi đột ngột trong thái độ của anh gầy, từ niềm vui sang sự kính cẩn và sợ hãi, cho thấy tâm lý tự ti và mặc cảm trước thành công của bạn. Hình ảnh anh "rúm ró," cúi gập người chào thể hiện một sự hạ thấp bản thân đáng buồn, như một minh chứng cho cảm giác bất an về vị thế xã hội của mình. Qua nhân vật này, tác giả phê phán những định kiến về địa vị xã hội, cho thấy rằng những người có cuộc sống khiêm tốn vẫn có giá trị và không nên bị đánh giá qua thành công của người khác. Anh gầy, vì thế, không chỉ là hình ảnh của sự tự ti, mà còn là lời nhắc nhở về sự cần thiết của tình bạn chân thành và lòng tự trọng trong cuộc sống.
Câu 2:Trong cuộc sống hằng ngày, những vui hay buồn đôi khi không nằm ở hoàn cảnh mà nằm ở cách chúng ta nhìn nhận vấn đề. Có người thấy buồn liền chán nản, buông xuôi; có người lại nhận ra vẻ đẹp, ý nghĩa ẩn giấu trong nghịch cảnh để làm mình trở nên mạnh mẽ hơn. Cách ta suy nghĩ hoặc nhìn nhận sự việc sẽ dẫn đến cảm xúc, hành động khác nhau. Từ đó, dẫn đến số phận khác nhau. Cách nhìn nhận vốn dĩ đã quyết định phần lớn cuộc sống của chính mình.
Cuộc sống của chúng ta chẳng bao giờ hoàn hảo. Khi còn nhỏ, chúng ta áp lực điểm số; khi trưởng thành, lại đối diện với cơm áo gạo tiền, gia đình, xã hội. Lời lẽ, ánh nhìn của người xung quanh nhiều khi trở thành gánh nặng, khiến ta mệt mỏi, buồn tủi. Có người vì thế mà gục ngã. Nhưng cũng có người chọn nhìn nhận tích cực, coi khó khăn là cơ hội để thử thách bản thân. Áp lực vì thế không còn là xiềng xích trói buộc mà trở thành động lực để rèn luyện ý chí, bản lĩnh. Giống như cây gai nhọn ngoài kia, trong cái gai cứng cỏi lại nở ra một đóa hoa đẹp đẽ. Con người cũng vậy, trải qua khổ đau sẽ rút ra bài học, tìm thấy cách trưởng thành hơn.
Sự việc nào cũng có hai mặt. Không gì có thể khiến ta buồn mãi, cũng không gì khiến cuộc đời chỉ toàn niềm vui. Quan trọng là lựa chọn cách nhìn nào. Nếu nhìn tích cực, ta sẽ thấy được lợi ích: tìm thấy sự an ủi, niềm tin, cảm giác thanh thản; đồng thời thôi thúc bản thân tìm hướng giải quyết thay vì than phiền. Thái độ sống ấy giúp ta sáng suốt hơn trong các quyết định, biết đủ và biết trân trọng cuộc sống này.
Chính vì vậy, ta cần rèn cho mình thói quen nhìn nhận sự việc bằng ánh mắt lạc quan và tích cực. Bởi cuộc sống luôn ẩn chứa cả niềm vui lẫn nỗi buồn, và chính cách ta đối diện sẽ quyết định chất lượng hạnh phúc của mình. Khi giữ được niềm tin, ta không chỉ vượt qua thử thách mà còn trưởng thành hơn, biết trân trọng từng khoảnh khắc đời thường giản dị.
Câu 1.
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2.
Đoạn thể hiện sự thay đổi đột ngột của gia đình anh gầy:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại… Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3.
Tình huống truyện: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, từ chỗ thân mật chân thành, khi biết anh béo có chức vị cao, anh gầy thay đổi thái độ trở nên khúm núm, nịnh bợ.
Câu 4.
• Trước khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy thân mật, vui vẻ, coi anh béo là bạn cũ, hồn nhiên kể chuyện xưa, giới thiệu gia đình.
• Sau khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy trở nên sợ sệt, khúm núm, lễ lạt, xưng hô cung kính như kẻ dưới với quan trên.
Câu 5.
Nội dung: Truyện phê phán thái độ hèn hạ, khúm núm, sính quyền lực của những con người ti tiện trong xã hội cũ; đồng thời làm nổi bật sự chênh lệch địa vị đã phá vỡ tình bạn trong sáng, chân thành.
Câu 1.
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2.
Đoạn thể hiện sự thay đổi đột ngột của gia đình anh gầy:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại… Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3.
Tình huống truyện: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, từ chỗ thân mật chân thành, khi biết anh béo có chức vị cao, anh gầy thay đổi thái độ trở nên khúm núm, nịnh bợ.
Câu 4.
• Trước khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy thân mật, vui vẻ, coi anh béo là bạn cũ, hồn nhiên kể chuyện xưa, giới thiệu gia đình.
• Sau khi biết cấp bậc của anh béo: anh gầy trở nên sợ sệt, khúm núm, lễ lạt, xưng hô cung kính như kẻ dưới với quan trên.
Câu 5.
Nội dung: Truyện phê phán thái độ hèn hạ, khúm núm, sính quyền lực của những con người ti tiện trong xã hội cũ; đồng thời làm nổi bật sự chênh lệch địa vị đã phá vỡ tình bạn trong sáng, chân thành.
Phần mền wordpad
Câu 1.
Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt biến thể (thể thơ bảy chữ).
Câu 2.
Khổ cuối:
• “bay” – “tay” → vần chính vần bằng
• “mắt” – “này” (chưa hiệp hoàn toàn, nhưng theo cách gieo vần lưng – chuyển tiếp).
→ Kiểu vần: vần liền (AA BB, biến thể).
Câu 3.
Biện pháp tu từ chính: điệp ngữ “Có lần tôi thấy” lặp lại xuyên suốt bài.
• Tác dụng: tạo nhịp điệu kể chuyện, gợi cảm giác chứng kiến nhiều cảnh tiễn biệt ở ga tàu, khắc sâu nỗi buồn chia li và sự phổ biến, lặp lại của những cảnh ấy.
Câu 4.
• Đề tài: Cảnh tiễn biệt, chia ly nơi sân ga.
• Chủ đề: Nỗi buồn, nỗi đau nhân sinh trong những cuộc chia li đời thường; sự cảm thông với những thân phận người phải xa cách.
Câu 5.
• Yếu tố tự sự: nhà thơ kể lại những gì “tôi thấy” ở sân ga (người yêu, vợ chồng, bạn bè, bà mẹ, người đơn độc…).
• Tác dụng: làm bài thơ giống một câu chuyện, chân thực và gần gũi; nhờ đó cảm xúc buồn thương, xót xa trước cảnh chia li được khắc họa rõ nét, tăng sức gợi hình gợi cảm.
Phần mền wordpad
Câu 1.
Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt biến thể (thể thơ bảy chữ).
Câu 2.
Khổ cuối:
• “bay” – “tay” → vần chính vần bằng
• “mắt” – “này” (chưa hiệp hoàn toàn, nhưng theo cách gieo vần lưng – chuyển tiếp).
→ Kiểu vần: vần liền (AA BB, biến thể).
Câu 3.
Biện pháp tu từ chính: điệp ngữ “Có lần tôi thấy” lặp lại xuyên suốt bài.
• Tác dụng: tạo nhịp điệu kể chuyện, gợi cảm giác chứng kiến nhiều cảnh tiễn biệt ở ga tàu, khắc sâu nỗi buồn chia li và sự phổ biến, lặp lại của những cảnh ấy.
Câu 4.
• Đề tài: Cảnh tiễn biệt, chia ly nơi sân ga.
• Chủ đề: Nỗi buồn, nỗi đau nhân sinh trong những cuộc chia li đời thường; sự cảm thông với những thân phận người phải xa cách.
Câu 5.
• Yếu tố tự sự: nhà thơ kể lại những gì “tôi thấy” ở sân ga (người yêu, vợ chồng, bạn bè, bà mẹ, người đơn độc…).
• Tác dụng: làm bài thơ giống một câu chuyện, chân thực và gần gũi; nhờ đó cảm xúc buồn thương, xót xa trước cảnh chia li được khắc họa rõ nét, tăng sức gợi hình gợi cảm.