Đinh Mạnh Dũng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu 1. Văn bản thuộc truyện ngắn (tự sự hiện thực, có yếu tố châm biếm).
Câu 2 Đoạn văn:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…”
Câu 3. Tình huống: Hai người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau ở sân ga, ban đầu vui vẻ, thân mật; nhưng khi biết rõ địa vị xã hội khác biệt thì thái độ, cách ứng xử thay đổi hoàn toàn.
Câu 4.
Trước khi biết: Anh gầy thân mật, vui mừng, nói năng tự nhiên, xưng hô bạn bè.
Sau khi biết: Anh gầy trở nên khúm núm, rụt rè, nhún nhường, cung kính, gọi “quan lớn”, xưng hô lễ phép.
* Sự thay đổi này cho thấy anh gầy có tính cách hèn hạ, trọng quyền lực, nịnh bợ, thiếu lòng tự trọng.
Câu 5. nội dung :Văn bản phê phán thói nịnh hót, hèn hạ của những con người chỉ biết cúi mình trước quyền lực, địa vị; đồng thời vạch ra sự giả dối, mất đi tình bạn chân thành trong xã hội đầy bất công và phân biệt đẳng cấp.
Câu1:
Bài thơ Những bóng người trên sân ga của Nguyễn Bính mang một nỗi buồn man mác, khắc họa cảnh chia ly đầy lưu luyến nơi sân ga tàu hỏa. Nội dung nổi bật là nỗi nhớ thương và tình cảm gắn bó sâu nặng của con người trong những khoảnh khắc tiễn đưa. Những “bóng người” in hằn trên sân ga không chỉ là hình ảnh thực mà còn là biểu tượng cho bao cuộc chia ly, cho sự mong chờ, nhớ nhung và cả cô đơn trong đời sống. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng thể thơ lục bát dân gian, giọng điệu trữ tình ngọt ngào, gần gũi để truyền tải cảm xúc. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ được vận dụng tinh tế, khiến nỗi buồn chia xa trở nên day dứt, ám ảnh. Đặc biệt, hình ảnh “con tàu” và “sân ga” vừa mang tính hiện thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng, gợi ra sự chuyển dịch của thời gian, sự phân ly trong kiếp người. Chính sự hòa quyện giữa bút pháp hiện thực và chất trữ tình đậm đặc đã làm cho bài thơ vừa giản dị, mộc mạc vừa sâu lắng, để lại dư âm lâu bền trong lòng người đọc.
Câu2:
Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết: “Trong rừng có nhiều lối đi/ Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người”. Câu thơ giàu tính biểu tượng đã gợi mở cho chúng ta một triết lí sống: phải biết chủ động lựa chọn lối đi riêng, dám sáng tạo để khẳng định bản thân và tạo nên giá trị mới mẻ trong cuộc đời.
Trước hết, cần hiểu rằng “lối đi chưa có dấu chân người” tượng trưng cho sự mới mẻ, độc đáo, chưa ai thử nghiệm. Lựa chọn lối đi riêng chính là việc con người biết chủ động, tự tin bước đi trên con đường mà mình tin tưởng, thay vì rập khuôn theo số đông. Đây là biểu hiện của khát vọng khẳng định bản thân, tinh thần sáng tạo và ý chí tự lập. Trong xã hội hiện đại, khi tri thức và công nghệ không ngừng phát triển, việc dám nghĩ khác, làm khác là yếu tố quan trọng tạo nên thành công.
Chủ động chọn lối đi riêng giúp con người phát huy tiềm năng, khẳng định cá tính, tránh sự hòa tan trong đám đông. Đó cũng là cách để mang đến những giá trị mới mẻ cho cộng đồng. Lịch sử đã chứng kiến nhiều tấm gương thành công nhờ con đường riêng của mình. Thomas Edison với hàng nghìn lần thử nghiệm để tạo nên bóng đèn điện, Steve Jobs với những sản phẩm công nghệ mang tính cách mạng, hay Nguyễn Ngọc Ký – thầy giáo viết bằng chân, tất cả họ đều không đi theo lối mòn mà xã hội vốn quen thuộc. Chính sự khác biệt ấy đã làm nên dấu ấn, để lại những đóng góp có ý nghĩa lâu dài.
Tuy nhiên, việc chọn lối đi riêng không đồng nghĩa với sự bồng bột, mù quáng. Người sáng tạo cần có tri thức, bản lĩnh và sự kiên định. Lối đi mới luôn đi kèm khó khăn, thử thách, thậm chí là thất bại. Vì thế, sự chuẩn bị kĩ càng về kiến thức, tinh thần dũng cảm và ý chí kiên trì là điều kiện để biến con đường riêng thành hiện thực. Nếu chỉ chạy theo khác biệt mà không tính toán, con người dễ rơi vào ngõ cụt, đánh mất cả cơ hội và niềm tin.
Là thế hệ trẻ, chúng ta càng phải rèn luyện khả năng sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Trong học tập, cần tìm ra phương pháp học hiệu quả cho bản thân thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Trong cuộc sống, cần có bản lĩnh lựa chọn con đường nghề nghiệp phù hợp với đam mê và năng lực, chứ không chỉ chạy theo xu hướng số đông. Quan trọng hơn, hãy tin tưởng vào giá trị của chính mình, bởi mỗi con người là một cá thể độc đáo, xứng đáng để tự viết nên hành trình riêng.