Nguyễn Ngọc Trâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Trâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu1: Trong đoạn trích Sống mòn, Nam Cao đã thể hiện bút pháp bậc thầy trong nghệ thuật xây dựng nhân vật trí thức tiểu tư sản. Điểm nổi bật nhất chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý sâu sắc qua những dòng độc thoại nội tâm đầy u uất. Tác giả không tập trung vào ngoại hình hay hành động kịch tính, mà đi sâu vào những biến chuyển tinh tế của ý nghĩ: từ những khao khát vĩ nhân thuở thiếu thời đến sự nhu nhược, "còm rom" khi đối diện với gánh nặng cơm áo. Cách trần thuật ở ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn nhập thân hoàn toàn vào nhân vật Thứ khiến ranh giới giữa người kể và nhân vật bị xóa nhòa, tạo nên sự đồng cảm đau đớn cho người đọc. Bên cạnh đó, việc sử dụng các hình ảnh biểu tượng như "con tàu lùi dần" hay "con trâu cắm cúi kéo cày" đã nâng tầm bi kịch cá nhân thành bi kịch chung của cả một thế hệ trí thức bế tắc. Qua đó, Thứ hiện lên không chỉ là một cá nhân thất nghiệp mà là điển hình cho những kiếp người bị hiện thực ghì sát đất, đang phải chịu đựng cái chết mòn về mặt tâm hồn ngay khi vẫn còn đang sống.

Câu2:Trong hành trình vươn tới những đỉnh cao của cuộc đời, con người thường chỉ ngợi ca ánh hào quang của chiến thắng mà quên mất rằng bóng tối của những lần vấp ngã mới chính là nơi đúc kết nên bản lĩnh. Có ý kiến cho rằng: "Sự vinh quang lớn nhất của chúng ta không nằm ở việc không bao giờ thất bại mà nằm ở việc vươn dậy sau mỗi lần vấp ngã". Đối với thế hệ trẻ ngày nay, việc "chấp nhận thất bại" không phải là sự yếu đuối, mà là thái độ sống tích cực để kiến tạo nên thành công bền vững.

Câu 1: Xác định ngôi kể Ngôi kể trong văn bản là ngôi thứ ba. Người kể chuyện ẩn mình, gọi nhân vật là "y", "Thứ", nhưng điểm nhìn trần thuật lại nhập thân vào dòng tâm tư của nhân vật để diễn tả những biến chuyển nội tâm phức tạp. Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội Khi ở Hà Nội, cuộc sống của Thứ được khắc họa qua các chi tiết: Thái độ sống: "Sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom". Suy nghĩ/Mối quan tâm: Chỉ dám nghĩ đến những việc vụn vặt như "để dành", "mua vườn", "làm nhà", "nuôi sống y với vợ con y". Tình trạng công việc: "Làm được một việc gì", "kiếm nổi bát cơm của mình ăn" (dạy học tư), nhưng cuối cùng rơi vào cảnh "trường đã vỡ", "hết kế sinh nhai". Câu 3: Biện pháp tu từ trong câu "Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân." Biện pháp tu từ: So sánh ("thấy mình gần như là..."). Tác dụng: Về nội dung: Nhấn mạnh sự hụt hẫng, bất lực và đau đớn của Thứ. Từ một người có hoài bão lớn lao ("vĩ nhân", "sang Tây"), thực tế phũ phàng đã biến y thành một kẻ vô dụng, thiếu sức sống, không giúp ích được gì cho đời. Về nghệ thuật: Làm cho câu văn giàu hình ảnh, tăng sức biểu cảm và khắc họa sâu sắc bi kịch bi kịch bị từ chối quyền làm người có ích của trí thức tiểu tư sản. Câu 4: Sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn Sự thay đổi của Thứ thể hiện sự lùi bước của một tâm hồn trước gánh nặng cơm áo: Ở Sài Gòn: Là quãng thời gian của khát vọng. Dù "lông bông" nhưng Thứ có sự "hăm hở", "náo nức", "mong chờ", biết yêu ghét quyết liệt và say mê học tập ở thư viện với ước mơ đi Pháp. Ở Hà Nội: Là quãng thời gian của sự thu mình và mòn mỏi. Thứ trở nên "rụt rè", "sẻn so", "còm rom". Những ước mơ vĩ đại nhường chỗ cho nỗi lo toan tính toán vụn vặt hằng ngày. => Nhận xét: Đó là quá trình "tha hóa" về mặt tâm hồn, khi nghịch cảnh đời thường dần bóp nghẹt những lý tưởng cao đẹp. Câu 5: Thông điệp rút ra Thông điệp: Đừng để sự trì trệ và nỗi sợ hãi thay đổi làm héo mòn giá trị sự sống của bản thân ("Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã").

Câu 1. Bài thơ Những người đàn bà bán ngô nướng đã khắc họa cảm động hình ảnh những người phụ nữ lao động nghèo giữa phố phường đô thị. Họ hiện lên trong không gian đêm lạnh, âm thầm mưu sinh bằng công việc bán ngô nướng giản dị nhưng vất vả. Qua đó, bài thơ phản ánh một hiện thực đời sống còn nhiều nhọc nhằn, thiếu thốn, đặc biệt là số phận lam lũ của những người phụ nữ ở tầng lớp dưới trong xã hội. Dù cuộc sống khó khăn, họ vẫn bền bỉ, chịu thương chịu khó, mang trong mình vẻ đẹp của sự tần tảo, nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng hình ảnh thơ mộc mạc, gần gũi với đời sống thường ngày, giọng điệu trầm lắng, giàu chất suy tư. Thủ pháp miêu tả kết hợp với biểu cảm giúp hình tượng thơ trở nên chân thực, gợi nhiều cảm xúc. Qua đó, tác giả không chỉ bày tỏ sự cảm thông sâu sắc mà còn thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp nhân hậu và sức sống bền bỉ của những người phụ nữ lao động nghèo trong cuộc sống đời thường. Câu 2. Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, yên ả mà luôn tồn tại những khó khăn, thử thách bất ngờ. Bởi vậy, câu nói của Vivian Greene: “Cuộc sống không phải là để chờ đợi cơn bão đi qua, cuộc sống là để học được cách khiêu vũ trong mưa” đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về thái độ sống tích cực của con người trước nghịch cảnh. Trước hết, “cơn bão” trong câu nói là hình ảnh ẩn dụ cho những biến cố, thất bại, đau khổ mà mỗi người đều phải đối diện trong đời. Chờ đợi cơn bão đi qua đồng nghĩa với thái độ sống thụ động, né tránh, chỉ mong khó khăn tự biến mất. Trong khi đó, “khiêu vũ trong mưa” lại biểu trưng cho tinh thần chủ động, lạc quan, dũng cảm đối mặt và tìm thấy ý nghĩa sống ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Câu nói khẳng định rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở việc ta có tránh được khó khăn hay không, mà ở cách ta đối diện và vượt qua nó như thế nào. Thực tế cho thấy, không ai có thể sống mà không gặp thử thách. Nếu chỉ chờ đợi điều kiện hoàn hảo mới bắt đầu sống, con người sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội quý giá. Ngược lại, những người biết “khiêu vũ trong mưa” là những người biết chấp nhận thực tại, biến khó khăn thành động lực để vươn lên. Chính trong nghịch cảnh, con người mới rèn luyện được bản lĩnh, ý chí và trưởng thành hơn. Nhiều tấm gương trong cuộc sống đã chứng minh rằng nghị lực và tinh thần lạc quan có thể giúp con người vượt qua bệnh tật, nghèo khó hay thất bại để đạt được thành công và hạnh phúc. Tuy nhiên, “khiêu vũ trong mưa” không có nghĩa là xem nhẹ hay phủ nhận nỗi đau. Đó là thái độ sống tích cực, biết đối diện với khó khăn bằng sự bình tĩnh, kiên cường và niềm tin vào tương lai. Khi con người có tinh thần ấy, họ sẽ không gục ngã trước nghịch cảnh mà biết cách thích nghi, thay đổi và vươn lên. Ngược lại, nếu bi quan, chán nản, dễ buông xuôi, con người sẽ tự đánh mất cơ hội của chính mình. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, câu nói mang ý nghĩa định hướng lối sống sâu sắc. Trước áp lực học tập, công việc và những biến động của xã hội, mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, không sợ thất bại, không trốn tránh khó khăn. Học cách “khiêu vũ trong mưa” chính là học cách sống tích cực, chủ động, dám đối diện và không ngừng nỗ lực để hoàn thiện bản thân. Tóm lại, câu nói của Vivian Greene đã nhắc nhở con người rằng cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta biết sống trọn vẹn trong mọi hoàn cảnh. Thay vì chờ đợi khó khăn qua đi, hãy học cách mỉm cười, vững vàng và bước tiếp, bởi chính trong “cơn mưa” của cuộc đời, con người mới khám phá được sức mạnh và giá trị đích thực của bản thân.

Câu 1: Thể thơ tự do

Câu 2: Thái độ của người đi đường Thái độ thờ ơ, rẻ rúng: "Người đi qua thờ ơ", "Hay rẻ rúng cầm lên vứt xuống", "Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm". Những từ ngữ này cho thấy sự vô tâm, thiếu đồng cảm, coi thường những người bán hàng rong nghèo khổ, chỉ quan tâm đến vật chất mà quên đi giá trị nhân văn. Câu 3: Biện pháp tu từ :ẩn dụ ("số phận mình bên đường", "bán dần từng mảnh đời mình") Tác dụng: Nội dung: Làm nổi bật sự vất vả, nhọc nhằn, sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ mưu sinh. Nghệ thuật: làm tăng sức gợi hình gợi cảm tăng tính nhạc điệu làm giàu cảm xúc cho bài thơ Câu 4: Mạch cảm xúc Khổ 1: Quan sát, cảm thương trước số phận mưu sinh vất vả của những người đàn bà bán ngô. Khổ 2: Chuyển sang xót xa, cảm nhận sự lạnh lùng, vô tâm của xã hội đối với họ. Khổ 3 & 4: Đồng cảm sâu sắc, xúc động, hồi tưởng về tuổi thơ gian khó, nhận ra sự hy sinh của mẹ cha, gắn liền với hình ảnh bắp ngô (kí ức ấm áp mà đớn đau). Khổ 5: Lắng lại trong sự trân trọng, ngưỡng mộ, suy ngẫm về vẻ đẹp phẩm giá, nghị lực sống kiên cường của những con người bình dị. Câu 5: Thông điệp Thông điệp: Giữ gìn phẩm giá, nghị lực sống và lòng nhân ái là điều thiêng liêng, cao quý ngay cả trong hoàn cảnh khốn khó nhất.

Caau 1: Thể Loại : Truyện truyền kì

Câu 2: Người phụ nữ

Câu 3:  Yếu tố kì ảo:

+ Hồn Đinh Hoàn hiện về gặp gỡ, trò chuyện với phu nhân ở trong mộng.

+ Người dân câu đảo tại đền thờ phu nhân đều thấy có linh ứng.

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện.

+ Thế hiện sự tôn vinh, lý tưởng hóá nhân vật phu nhân: Bà đã trở thành một tấm gương mẫu mực về đức hạnh, được người đời tôn vinh, trọng vọng. Chính vì thế, sự linh ứng cho thấy niềm tin tưởng và sự lý tưởng hóá mà nhân dân dành cho bà.

Câu 4:

- Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong văn bản: Gia tăng tính hàm súc, uyên bác, trang nhã cho văn bản;

đồng thời gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú, giàu cảm xúc.

Em ấn tượng nhất với điển tích "chặt vai" vì câu chuyện xưa ấy đã cho thấy hành động quyết đoán của nàng Lý khi nàng dám chặt tay để bảo vệ trinh tiết của mình. Song, đối với phu nhân của Định Hoàn, dù "chặt vai" hay "khoét mắt" thì thân xác, sự sống vẫn còn, chứ không thể đi theo người phu quân mà mình yêu thương sâu sắc. Do đó, điển tích này càng giúp em nhận thấy rõ nét hơn tình yêu chân thành, mãnh liệt mà phu nhân dành cho Đinh Hoàn.

Câu 5 :

- Không gian trong văn bản có sự kết hợp giữa các cõi: Cõi trần và cõi tiên/ cõi mộng. Cụ thể:

+ Không gian cõi trần: Đường đi sứ đầy gian nan của Đinh Hoàn; không gian mùa thu có gió vàng, tiếng ve; trời đất chỉ có sương mù, trăng mờ.

+ Không gian cõi tiên/ cõi mộng: Thiên

Đình, nơi thiên tào nhiều công việc;

không gian Đinh Hoàn hiện về gặp phu nhân.

- Tác dụng của việc xây dựng không gian: Sự kết hợp giữa các cõi có tác dụng:

+ Góp phần làm tăng thêm sự kì ảo, huyền bí cho không gian nghệ thuật, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

+ Khắc hoạ sâu sắc đề tài, chủ đề của truyện: Qua cuộc gặp gỡ giữa Đinh Hoàn và phu nhân trong cõi mộng/ cõi tiên, không gian ấy tô đậm hơn tình nghĩa phu thê giữa hai nhân vật; từ đó, thúc đẩy cốt truyện, hợp thức hoá cho hành động quyền sinh của phu nhân sau này - rằng đây không phải là một hành động cực đoan, vô nghĩa mà là hành động chủ động, cố gắng để được tái hợp với phu

quân, khăng định sự thuy chung, trinh liệt của người phụ nữ.

Câu1: Trong tác phẩm, Đinh phu nhân hiện lên là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam truyền thống với vẻ đẹp vẹn toàn về cả dung hạnh lẫn trí tuệ. Trước hết, bà là một người vợ hiền thục, luôn "tự sửa mình theo khuôn phép" và có sức ảnh hưởng tích cực đến chồng, giúp Đinh Hoàn từ một người có phần lơi lỏng trở thành vị quan cần mẫn. Tài năng văn chương của bà không chỉ dùng để xướng họa cùng chồng mà còn là phương tiện để bày tỏ tấm lòng trung trinh qua bài văn tế đẫm lệ. Đặc biệt, lòng thủy chung của bà đạt đến mức cực độ khi quyết định quyên sinh để vẹn chữ tòng. Hành động này không đơn thuần là sự yếu đuối mà là sự khẳng định một tình yêu bất diệt, vượt qua ranh giới sinh tử. Qua nhân vật này, tác giả đã ngợi ca phẩm chất cao quý, sự kiên trung và tâm hồn thanh cao của người phụ nữ trong xã hội xưa.

Câu2:Trong lịch sử dân tộc, tầng lớp trí thức luôn được coi là "nguyên khí của quốc gia". Từ hình ảnh Đinh Hoàn trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp – một vị quan dù đi sứ nơi đất khách quê người vẫn tận hiến cho đến hơi thở cuối cùng – chúng ta thấy hiện rõ một chân lý: Trách nhiệm của người trí thức không chỉ nằm ở kinh viện, sách vở mà còn gắn liền với sự hưng vong của đất nước.Trong tác phẩm, Đinh phu nhân hiện lên là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam truyền thống với vẻ đẹp vẹn toàn về cả dung hạnh lẫn trí tuệ. Trước hết, bà là một người vợ hiền thục, luôn "tự sửa mình theo khuôn phép" và có sức ảnh hưởng tích cực đến chồng, giúp Đinh Hoàn từ một người có phần lơi lỏng trở thành vị quan cần mẫn. Tài năng văn chương của bà không chỉ dùng để xướng họa cùng chồng mà còn là phương tiện để bày tỏ tấm lòng trung trinh qua bài văn tế đẫm lệ. Đặc biệt, lòng thủy chung của bà đạt đến mức cực độ khi quyết định quyên sinh để vẹn chữ tòng. Hành động này không đơn thuần là sự yếu đuối mà là sự khẳng định một tình yêu bất diệt, vượt qua ranh giới sinh tử. Qua nhân vật này, tác giả đã ngợi ca phẩm chất cao quý, sự kiên trung và tâm hồn thanh cao của người phụ nữ trong xã hội xưa.