Hồ Vũ Yến Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hồ Vũ Yến Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Xác định ngôi kể của văn bản trên.

  • Trả lời: Ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi tên các nhân vật là "cô", "bố", "mẹ", "chị dâu").

Câu 2: Xác định điểm nhìn trong đoạn trích.

  • Trả lời: Điểm nhìn của nhân vật Chi-hon (người con gái thứ ba). Toàn bộ sự việc mẹ bị lạc và những hồi ức về mẹ đều được soi chiếu qua dòng cảm xúc, sự ân hận và suy tư của cô.

Câu 3: Biện pháp nghệ thuật và tác dụng.

  • Đoạn văn: "Lúc mẹ bị xô tuột khỏi tay bố, cô đang cùng đồng nghiệp tham dự triển lãm sách tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Lúc mẹ cô bị lạc ở ga tàu điện ngầm Seoul, cô đang cầm trên tay bản dịch tiếng Trung cuốn sách của cô tại một quầy sách ở triển lãm."
  • Biện pháp nghệ thuật: Đối lập (tương phản) kết hợp với cấu trúc điệp ngữ/song hành ("Lúc mẹ... cô đang...").
  • Tác dụng:
    • Nhấn mạnh sự cách biệt về không gian và hoàn cảnh giữa hai mẹ con: Trong khi mẹ đang đối mặt với sự cố, lạc lõng giữa đám đông thì con gái lại đang ở một nơi xa hoa, thành đạt với sự nghiệp riêng.
    • Làm nổi bật nỗi đau xót, sự ân hận muộn màng của người con khi nhận ra mình đã quá mải mê với cuộc sống riêng mà vô tâm với mẹ.

Câu 4: Phẩm chất của người mẹ và câu văn thể hiện.

  • Phẩm chất: Sự tần tảo, hy sinh, quên mình và lòng thương con vô điều kiện. Mẹ luôn dành những điều tốt đẹp nhất cho con dù bản thân phải chịu thiệt thòi, cũ kỹ.
  • Câu văn thể hiện:
    • "Chiếc váy xếp nếp ấy tương phản hoàn toàn với chiếc khăn cũ kỹ lem nhem mẹ đội trên đầu như hai thế giới tách biệt không ăn nhập gì với nhau." (Cho thấy sự lam lũ của mẹ đối lập với món đồ đẹp mẹ muốn mua cho con).
    • "Nếu là con thì mẹ đã thử cái váy này", "Không, mẹ thích kiểu này, chỉ có điều mẹ thì không mặc được." (Mẹ từ bỏ sở thích cá nhân để ưu tiên cái đẹp cho con).

Câu 5:

Trong cuộc sống, những hành động vô tâm đôi khi là liều thuốc độc vô hình khiến người thân ta bị tổn thương sâu sắc. Chúng ta thường mải mê theo đuổi những giá trị xa xôi ở thế giới bên ngoài mà quên mất việc lắng nghe hay quan tâm đến cảm xúc của những người gần gũi nhất. Một lời nói gắt gỏng, một sự từ chối thiếu kiên nhẫn hay việc coi sự hy sinh của cha mẹ là điều hiển nhiên đều có thể tạo nên những vết sẹo lòng khó lành. Để rồi khi biến cố xảy ra, ta chỉ còn biết chìm đắm trong sự hối hận muộn màng như nhân vật Chi-hon trong tác phẩm. Vì vậy, hãy học cách trân trọng và yêu thương người thân ngay từ những điều nhỏ nhặt nhất khi còn có thể.


Câu 1

Trong văn bản Truyện người liệt nữ ở An Ấp, nhân vật phu nhân hiện lên là hình tượng người phụ nữ hội tụ vẻ đẹp truyền thống cao quý của đạo đức phong kiến. Trước hết, bà là người vợ thủy chung, hết lòng yêu thương và kính trọng chồng. Khi Đinh Hoàn còn sống, bà giữ trọn khuôn phép, tận tụy khuyên răn chồng làm điều phải, góp phần giúp ông trở thành vị quan thanh liêm, tận tâm vì nước. Khi chồng qua đời nơi đất khách, phu nhân không chỉ đau đớn thương tiếc mà còn thể hiện nghĩa tình sâu nặng qua bài văn tế đầy xúc động, bày tỏ nguyện vọng được chết theo chồng. Dù được người nhà can gián, bà vẫn giữ trọn khí tiết, không vì sinh mạng bản thân mà quên đi nghĩa phu thê. Hành động tuẫn tiết của phu nhân thể hiện sự thủy chung son sắt, quyết liệt bảo vệ danh tiết và đạo nghĩa. Qua hình tượng này, tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp đạo đức của người phụ nữ trong xã hội xưa, đồng thời gửi gắm niềm trân trọng đối với những con người sống nặng tình, nặng nghĩa, sẵn sàng hi sinh bản thân để giữ trọn giá trị tinh thần cao đẹp.

Câu 2

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người trí thức luôn giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Qua hình tượng nhân vật Đinh Hoàn – một kẻ sĩ hết lòng vì việc nước trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp, ta càng nhận thức rõ hơn về trách nhiệm thiêng liêng của người trí thức đối với vận mệnh quốc gia.

Đinh Hoàn là hình ảnh tiêu biểu của tầng lớp trí thức phong kiến mang trong mình lí tưởng phụng sự đất nước. Ông không chỉ là người có tài văn chương mà còn là vị quan tận tụy, luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân. Trên cương vị được giao, Đinh Hoàn dốc lòng làm việc, không quản gian nan, nguy hiểm, thậm chí hi sinh cả tính mạng khi đi sứ vì việc bang giao. Hình tượng ấy thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của người trí thức: lấy việc nước làm trọng, lấy sự an nguy của quốc gia làm lẽ sống.

Từ hình tượng Đinh Hoàn, có thể thấy rằng trách nhiệm lớn nhất của người trí thức đối với đất nước chính là dùng tri thức và tài năng của mình để phụng sự cộng đồng. Trí thức không chỉ là người có học vấn cao mà còn phải là người có bản lĩnh, có ý thức công dân và tinh thần dấn thân. Trong mọi thời đại, đất nước luôn cần những con người biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, sẵn sàng cống hiến trí tuệ để giải quyết những vấn đề của xã hội.

Trong thời đại ngày nay, trách nhiệm của người trí thức càng trở nên quan trọng hơn. Trước những biến động phức tạp của thế giới và sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, người trí thức cần không ngừng học tập, sáng tạo, làm chủ tri thức mới để góp phần đưa đất nước phát triển bền vững. Đồng thời, trí thức còn phải giữ vững đạo đức nghề nghiệp, có chính kiến rõ ràng, không thờ ơ trước những vấn đề của xã hội, không chạy theo lợi ích cá nhân mà đánh mất trách nhiệm với cộng đồng.

Bên cạnh đó, người trí thức còn có trách nhiệm lan tỏa những giá trị tốt đẹp, định hướng nhận thức cho thế hệ trẻ. Bằng tri thức, thái độ sống và hành động cụ thể, trí thức góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ, nhân văn, giàu bản sắc dân tộc. Khi mỗi trí thức ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, sức mạnh trí tuệ dân tộc sẽ được nhân lên gấp bội.

Như vậy, hình tượng Đinh Hoàn không chỉ là tấm gương sáng của kẻ sĩ thời phong kiến mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với trí thức hôm nay. Trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước không chỉ nằm ở tri thức mà còn ở tâm huyết, bản lĩnh và tinh thần cống hiến. Khi trí thức biết sống vì nước, vì dân, đất nước mới có thể phát triển vững bền và trường tồn.



Câu 1

Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, hình ảnh làng quê hiện lên qua cảm nhận của nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp bình dị, thân thương nhưng cũng thấm đẫm nỗi niềm sâu lắng. Đó là không gian quen thuộc với những hình ảnh gần gũi, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của con người, nơi lưu giữ kỉ niệm, tuổi thơ và cội nguồn của mỗi cá nhân. Làng quê không chỉ là nơi chốn sinh sống mà còn là điểm tựa tinh thần, nuôi dưỡng tâm hồn con người bằng sự yên bình, ấm áp và nghĩa tình. Qua cái nhìn của nhân vật trữ tình, làng quê còn mang dáng vẻ trầm lắng, gợi nỗi nhớ và sự hoài niệm, nhất là khi con người đứng trước những đổi thay của thời gian và cuộc sống. Chính cảm xúc ấy khiến hình ảnh làng quê trở nên giàu chất thơ, mang ý nghĩa sâu sắc hơn cả một không gian địa lí. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu quê hương chân thành, tha thiết, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng, gìn giữ những giá trị bình dị nhưng bền vững của làng quê trong dòng chảy hiện đại.

Câu 2

Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của giới trẻ. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, con người có thể kết nối, chia sẻ và cập nhật thông tin một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, mạng xã hội cũng mang đến không ít tác động tiêu cực. Vì vậy, việc sử dụng mạng xã hội một cách thông minh là điều vô cùng cần thiết đối với mỗi bạn trẻ hiện nay.


Không thể phủ nhận rằng mạng xã hội đem lại nhiều lợi ích thiết thực. Đây là môi trường giúp giới trẻ mở rộng mối quan hệ, giao lưu, học hỏi và tiếp cận tri thức mới. Nhiều bạn trẻ tận dụng mạng xã hội để học tập trực tuyến, kinh doanh, phát triển bản thân và thể hiện tiếng nói cá nhân. Mạng xã hội còn là cầu nối giúp con người xích lại gần nhau hơn, đặc biệt trong những hoàn cảnh khó khăn hay khi khoảng cách địa lí bị giới hạn.

Tuy nhiên, nếu không sử dụng đúng cách, mạng xã hội sẽ gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực. Việc lạm dụng mạng xã hội dễ khiến giới trẻ rơi vào trạng thái nghiện, sao nhãng học tập, giảm khả năng giao tiếp trực tiếp và sống khép kín hơn. Không ít người bị ảnh hưởng tâm lí bởi những thông tin tiêu cực, những lời so sánh, chỉ trích hay áp lực phải thể hiện bản thân trên không gian mạng. Bên cạnh đó, tình trạng tin giả, bạo lực ngôn từ, lối sống ảo còn khiến nhận thức và hành động của một bộ phận giới trẻ bị lệch lạc.

Trước thực trạng đó, sử dụng mạng xã hội một cách thông minh là yêu cầu cấp thiết. Trước hết, mỗi người cần biết kiểm soát thời gian sử dụng mạng xã hội, không để nó chi phối toàn bộ cuộc sống. Bên cạnh đó, cần chọn lọc thông tin, tránh tin vào những nội dung chưa được kiểm chứng. Việc giữ gìn văn hóa ứng xử trên mạng, tôn trọng người khác và chịu trách nhiệm với lời nói, hành động của mình cũng là biểu hiện của sự thông minh khi tham gia mạng xã hội. Ngoài ra, giới trẻ nên tận dụng mạng xã hội như một công cụ hỗ trợ học tập, rèn luyện kỹ năng và phát triển bản thân thay vì chỉ dùng để giải trí đơn thuần.

Bản thân mỗi học sinh cần ý thức rõ vai trò và tác động của mạng xã hội đối với cuộc sống. Biết sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, đúng mức sẽ giúp chúng ta làm chủ công nghệ thay vì bị công nghệ chi phối. Khi đó, mạng xã hội mới thực sự trở thành một người bạn đồng hành tích cực trong hành trình trưởng thành của giới trẻ.


Câu 1: Dấu hiệu xác định thể thơ.

  • Dấu hiệu: Các dòng thơ có số chữ không bằng nhau (dòng 8 chữ, dòng 7 chữ, dòng 9 chữ...), không tuân theo luật bằng trắc nghiêm ngặt của thơ đường luật. Đây là thể thơ tự do.

Câu 2: Từ ngữ miêu tả hình ảnh người bà.

  • Các từ ngữ: "Lưng bà đã còng hơn""Lời bà như ngọn đèn".

Câu 3: Phân tích hiệu quả biện pháp tu từ so sánh: "Cổ tích như dòng sông chảy vào tuổi nhỏ".

  • Hiệu quả: Phép so sánh giúp hình tượng hóa những câu chuyện cổ tích trừu tượng trở nên sinh động, gần gũi như một dòng sông mang phù sa bồi đắp tâm hồn. Nó thể hiện sức sống mãnh liệt, bền bỉ của những giá trị văn hóa truyền thống đã nuôi dưỡng tâm hồn đứa trẻ từ khi còn thơ bé.

Câu 4: Nhận xét về tình cảm của nhân vật trữ tình.

  • Tình cảm của nhân vật trữ tình là sự trân trọng, yêu mến và gắn bó sâu nặng với quê hương. Đó là nỗi nhớ da diết về những kỷ niệm tuổi thơ bên cổng làng, bên người bà kính yêu và niềm tự hào về truyền thống văn hóa của cội nguồn.

Câu 5:

  • Cội nguồn (quê hương, gia đình, truyền thống) là điểm tựa vững chắc nhất cho mỗi con người giữa bão táp cuộc đời. Nó không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là dòng chảy văn hóa bồi đắp nên nhân cách và tâm hồn. Sức mạnh của cội nguồn giúp con người biết sống có trách nhiệm, biết ơn và có thêm bản lĩnh để vươn xa mà không bị lạc lối. Một người luôn nhớ về cội nguồn sẽ có một đời sống tinh thần phong phú và ý nghĩa hơn.

Câu 1: Thể loại của văn bản

  • Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kỳ (hoặc cụ thể hơn là truyền kỳ mạn lục/truyền kỳ tân phả viết bằng chữ Hán).

Câu 2: Đề tài của văn bản

  • Văn bản viết về đề tài người phụ nữ.
  • Cụ thể là ca ngợi lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng son sắt và tiết hạnh cao đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Câu 3: Yếu tố kì ảo trong văn bản

  • Yếu tố kì ảo: Chi tiết Đinh Hoàn dù đã mất tại Yên Kinh nhưng linh hồn vẫn hiện về thăm vợ ("thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ ra chính là chồng mình") và trò chuyện, an ủi nàng. Sau khi bà mất, người dân cầu đảo đều có linh ứng.
  • Tác dụng:
    • Về nội dung: Làm nổi bật tình cảm vợ chồng sâu nặng, vượt qua cả ranh giới sinh tử. Khẳng định sự bất tử của lòng thủy chung và tiết hạnh của người phụ nữ.
    • Về nghệ thuật: Tăng sức hấp dẫn, ly kỳ cho cốt truyện; giúp tác giả gửi gắm những tư tưởng, tình cảm nhân văn một cách sâu sắc và thiêng liêng hơn.

Câu 4: Sử dụng điển tích, điển cố

  • Các điển tích, điển cố tiêu biểu: Nàng Lục Châu, Người trinh nữ (hòn Vọng Phu), Chặt vai (họ Lý), Thuấn phi, Chức Nữ, Vi Ngọc Tiên, Dương Thái Chân.
  • Tác dụng: * Tạo nên sự trang trọng, uyên bác cho lời văn.
    • Giúp người đọc dễ dàng liên tưởng, so sánh đức hạnh của nhân vật với các tấm gương nghĩa liệt trong lịch sử và huyền thoại, từ đó khẳng định giá trị cao quý của nhân vật chính.
  • Ấn tượng cá nhân: (Bạn có thể chọn một điển tích).
    • Ví dụ: Ấn tượng với điển tích "Người trinh nữ hóa đá" (Vọng Phu). Vì nó gợi lên hình ảnh biểu tượng bất diệt về sự chờ đợi mòn mỏi và lòng thủy chung son sắt của người vợ đối với chồng, rất tương đồng với hoàn cảnh của phu nhân trong truyện.

Câu 5: Không gian nghệ thuật trong văn bản

  • Chi tiết thể hiện sự kết hợp giữa các cõi:
    • Cõi trần (nhân gian): Cảnh phu nhân ngồi đốt đèn một mình trong đêm thu muộn, tiếng ve kêu sầu, sương mù trăng mờ.
    • Cõi tiên/âm (Thiên Đình): Nơi Đinh Hoàn đang "chầu Thiên Đình, được trông coi về việc bút nghiên".
    • Sự giao thoa: Cuộc gặp gỡ giữa người sống (phu nhân) và người đã khuất (Đinh Hoàn) trong không gian chập chờn "nửa mê nửa tỉnh".
  • Tác dụng: * Mở rộng biên độ không gian, xóa nhòa khoảng cách giữa sự sống và cái chết, giữa thực và ảo.
    • Nhấn mạnh rằng những tâm hồn đồng điệu, tình nghĩa sâu nặng sẽ luôn tìm thấy nhau dù ở bất cứ không gian nào.
    • Tạo nên màu sắc huyền ảo, thiêng liêng cho câu chuyện, nâng tầm vẻ đẹp của lòng thủy chung thành một giá trị vĩnh cửu.


Câu 1

Thể loại: Nhật kí.

Câu 2

Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (xưng “mình”, “chị”), người viết tự kể lại trải nghiệm của mình.

Câu 3

Đặc điểm ngôn ngữ thân mật trong văn bản:

  • Sử dụng đại từ gần gũi: mình – em, chị – em.
  • Lời kể giàu cảm xúc, mang tính tâm sự: “Mình thương Luân, phục Luân…”, “Chị không muốn thấy sự khổ đau…”.
  • Cách diễn đạt tự nhiên, giản dị như lời nói hằng ngày.

Câu 4

Một số chi tiết thể hiện tính xác thực:

  • Thời gian ghi chép rõ ràng: “11.7.68”.
  • Sự kiện, hoàn cảnh có thật: Luân làm cách mạng từ nhỏ, băng rào ấp chiến lược, tham gia du kích, mùa khô trụ bám Phổ Vinh…
  • Mô tả cụ thể con người và tuổi tác: “mười tuổi”, “mười lăm tuổi”, “hai mốt tuổi”.

Tác dụng:

→ Làm cho ghi chép có tính chân thực, đáng tin; tái hiện sinh động cuộc đời người chiến sĩ trẻ và hiện thực khốc liệt của chiến tranh.

Câu 5

Từ văn bản, em nhận ra bài học về lòng biết ơn và sự trân trọng những người đã hi sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc. Hình ảnh Luân – một chàng trai mới hai mươi tuổi nhưng đã trải qua bao gian khổ – nhắc em phải sống có trách nhiệm, biết cố gắng và vượt khó. Đồng thời, em hiểu rằng tuổi trẻ cần nuôi dưỡng niềm tin, hi vọng và lý tưởng sống đẹp để không uổng phí những năm tháng quý giá của đời mình.



Câu 1

Hiện tượng tâm lí đám đông đang trở nên phổ biến trong giới trẻ và gây ra nhiều tác hại đáng lo ngại. Khi chạy theo số đông, nhiều bạn đánh mất khả năng suy nghĩ độc lập, không dám bày tỏ quan điểm cá nhân mà chỉ hành động theo xu hướng của tập thể. Điều này khiến các bạn dễ bị cuốn vào những trào lưu lệch lạc như đua đòi, sống ảo, bắt chước hành vi tiêu cực mà không lường được hậu quả. Tâm lí đám đông cũng làm giới trẻ dễ bỏ qua các giá trị đúng đắn, dẫn đến mù quáng trong nhận thức, thiếu bản lĩnh để phân biệt đúng – sai, thật – giả. Không ít trường hợp, chỉ vì nghe theo nhóm bạn mà các bạn vi phạm pháp luật, tổn hại sức khỏe hoặc gây ảnh hưởng xấu đến người khác. Hơn nữa, khi đánh mất chính mình trong đám đông, giới trẻ không còn cơ hội phát triển cá tính, năng lực và bản sắc riêng. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần rèn luyện bản lĩnh, tư duy phản biện và khả năng tự chủ để lựa chọn hành vi đúng đắn, thay vì hành động theo cảm tính của số đông.


Câu 2

Nguyễn Ngọc Tư – người viết về miền sông nước Nam Bộ bằng giọng văn mộc mạc mà thấm thía – luôn hướng ngòi bút về những điều bình dị nhất: tình thân, quê hương và nỗi cô đơn của con người trước sự đổi thay của thời đại. Hai đoạn trích Ông ngoại và Giàn bầu trước ngõ tuy kể hai câu chuyện khác nhau nhưng lại gặp nhau ở điểm chung: đó là vẻ đẹp của tình cảm gia đình được nhìn từ góc mắt trẻ thơ, nơi sự vô tư dần nhường chỗ cho thấu hiểu và yêu thương.


Ở đoạn trích Ông ngoại, câu chuyện bắt đầu bằng sự khó chịu của Dung khi phải sang sống với ông. Sự khác biệt giữa hai thế hệ tạo nên hai “thế giới” trong cùng một căn nhà: thế giới tĩnh lặng của ông và thế giới ồn ào của tuổi trẻ. Nhưng càng sống gần, Dung càng nhận ra những điều trước đây mình vô tâm bỏ qua. Chỉ một câu nói “Ngoại sợ con ở nhà một mình buồn” đã đủ làm cô bé chột dạ, bởi lần đầu tiên Dung hiểu: phía sau vẻ cằn nhằn của ông là tình thương thầm lặng. Những chi tiết tinh tế như tiếng ho khúc khắc, dáng ông còng lưng tưới cây, hay khoảnh khắc ông ngồi lại nghe Dung hát… đã đánh thức trong cô bé một cảm xúc mới – cảm xúc của sự trưởng thành. Tình thân không còn là nghĩa vụ, mà trở thành sự gắn bó ấm áp. Đoạn trích vì thế mang sắc thái dịu dàng, như một dòng nước nhỏ chảy qua tâm hồn, khiến người đọc bỗng muốn yêu hơn mái tóc bạc của ông bà mình.


Ngược lại, Giàn bầu trước ngõ lại ngân lên những nốt buồn rất nhẹ nhưng day dứt. Bà nội trong câu chuyện như mang cả quê hương theo mình lên thành phố: trong chiếc lò đất, trong những món bánh quê “ngộ”, và trong giàn bầu trước cửa – nơi bà gửi gắm nỗi nhớ những ngày xưa cũ. Vậy nhưng, trong ngôi nhà hiện đại, bà trở thành người lạc lõng. Sự xa cách giữa các thế hệ không bùng nổ thành mâu thuẫn, nhưng âm thầm như cái thở dài của bà khi nghe cháu nói: “Thời này ai đeo mấy thứ này”. Nỗi buồn của bà là nỗi buồn của những người già bị đặt sai chỗ trong cuộc sống vội vàng: họ tồn tại nhưng không ai thật sự chạm vào thế giới của họ. Khi bà bệnh, chỉ còn ký ức ở lại, giàn bầu trở thành chứng nhân lặng lẽ cho tình yêu quê hương mà cả gia đình vô tình lãng quên.


So sánh hai đoạn trích, dễ thấy nhân vật trẻ đều trải qua một hành trình trưởng thành trong cảm xúc. Nhưng ở Ông ngoại, sự trưởng thành ấy ngọt ngào, đem lại cái kết ấm áp. Còn ở Giàn bầu trước ngõ, sự thức tỉnh đến muộn, gợi lên nỗi xót xa. Một phía là niềm vui nhận ra giá trị của hiện tại, một phía là nỗi tiếc nuối trước những gì đang mất đi. Dù vậy, cả hai đều gặp nhau ở nghệ thuật: lời văn giản dị mà gợi cảm, chi tiết đời thường nhưng giàu ý nghĩa, và khả năng chạm đến những vùng sâu kín nhất của tình cảm gia đình.


Từ hai câu chuyện, ta hiểu hơn rằng tình thân không phải là điều hiển nhiên. Nó cần được gìn giữ bằng sự lắng nghe, bằng một cái nhìn thấu hiểu, bằng lòng trân trọng những điều tưởng như nhỏ bé. Bởi đôi khi, chỉ một tiếng ho khẽ hay một giàn bầu trước ngõ cũng đủ làm ta nhận ra: yêu thương, nếu không gìn giữ, sẽ lặng lẽ trôi xa.




Câu 1.



Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.





Câu 2.



Ta cần trân trọng và chăm sóc bản thân vì chính ta là người hiểu rõ nhất những tổn thương, nỗi đau và nỗi sợ của mình, nên chỉ ta mới có thể bảo vệ và nuôi dưỡng tâm hồn mình tốt nhất.





Câu 3.



Ngạn ngữ giúp tăng tính thuyết phục, gợi mở vấn đề một cách tự nhiên và làm cơ sở dẫn dắt người đọc suy nghĩ về việc hiểu và yêu thương chính mình.





Câu 4.



Câu nói có nghĩa là: cách ta đối xử với bản thân sẽ ảnh hưởng đến cách người khác đối xử với ta. Nếu ta coi trọng, biết giá trị của mình, người khác cũng sẽ tôn trọng; ngược lại, nếu ta xem nhẹ bản thân, người khác dễ xem thường ta.





Câu 5.



Đồng tình.

Vì tự yêu thương và tự bảo vệ mình giúp ta mạnh mẽ hơn, không phụ thuộc vào người khác. Khi ta biết chăm sóc tâm hồn mình, ta mới đủ bình an, đủ bản lĩnh để vượt qua khó khăn và sống hạnh phúc.


Câu 1:

Hình tượng đất nước trong đoạn thơ của Bằng Việt hiện lên vừa gần gũi, vừa lớn lao, mang ý nghĩa sâu sắc. Đất nước không phải khái niệm trừu tượng mà gắn liền với hình ảnh con người bình dị trên mọi nẻo đường đất nước: những bàn tay dựng nhà, kéo nhịp cầu, những em bé tung tăng đến lớp, những cô gái chuẩn bị may áo cưới sau chiến tranh. Qua đó, đất nước được cảm nhận như một cơ thể sống, đang hồi sinh sau những tàn phá khốc liệt của bom đạn. Đất nước cũng là kết tinh của tinh thần hy sinh, sức mạnh kiên cường và ý chí bất khuất của nhân dân. Mỗi con người bình thường đều góp phần làm nên vẻ đẹp kỳ diệu ấy. Đặc biệt, “vị ngọt từ Tháng Tám ban đầu” là biểu tượng cho thành quả cách mạng, cho niềm tự hào dân tộc bền bỉ qua bao thế hệ. Như vậy, hình tượng đất nước trong đoạn thơ vừa mang vẻ đẹp đau thương mà kiêu hãnh, vừa chứa đựng sức sống mãnh liệt. Đó là đất nước được xây bằng mồ hôi, máu và niềm tin của con người; đất nước mà mỗi thế hệ cần nâng niu và tiếp tục bồi đắp.

Câu 2:

Lịch sử là dòng chảy dài của thời gian với vô vàn sự kiện. Nhưng lịch sử không chỉ là những con số, những mốc thời gian khô khan trong sách giáo khoa; lịch sử trước hết là câu chuyện của con người – những người đã sống, chiến đấu, hy sinh để giữ gìn và xây dựng đất nước. Bởi vậy, nhiều người cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Ý kiến ấy gợi mở một cách nhìn sâu sắc về giá trị của lịch sử và cách chúng ta cảm nhận lịch sử.

Một bài giảng lịch sử, dẫu đầy đủ sự kiện, vẫn có thể trở nên khô cứng nếu chỉ dừng lại ở việc liệt kê, kể lại. Nhưng khi lịch sử được gắn với những con người cụ thể, với số phận, nỗi đau, hy vọng và khát vọng, nó lập tức trở nên sống động, lay động trái tim. Ta không chỉ học về chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 mà còn xúc động trước hình ảnh những chiến sĩ kéo pháo giữa rừng sâu, ăn cơm vắt, ngủ hầm hào giữa mưa bom bão đạn. Ta không chỉ nhớ ngày 30-4-1975 mà còn khắc ghi hình ảnh những người lính trẻ đã ngã xuống trước giờ phút hòa bình. Chính những con người ấy khiến lịch sử trở thành điều gần gũi, truyền cảm hứng và nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc.

Ý kiến trên cũng nhắc nhở rằng lịch sử không phải thứ để học thuộc mà để thấm vào trái tim, để ta hiểu những giá trị mà mình đang được hưởng hôm nay đều có cái giá của nó. Khi ta xúc động trước những phận người trong lịch sử, ta học được bài học lớn về lòng yêu nước, sự dũng cảm, trách nhiệm và khát vọng sống có ích. Lịch sử vì thế không chỉ là quá khứ mà là động lực cho hiện tại và tương lai.

Trong đời sống hôm nay, việc học lịch sử càng cần được gắn với câu chuyện về những con người thật: từ anh giải phóng quân, chị thanh niên xung phong đến những nhà khoa học, những con người bình dị âm thầm cống hiến. Khi biết trân trọng họ, ta sẽ thấy yêu hơn đất nước mình, trân quý hơn hòa bình, và có ý thức sống tốt đẹp để không hổ thẹn với những thế hệ đi trước.

Tóm lại, điều khiến chúng ta xúc động không phải là những trang sách vô tri mà là con người trong lịch sử – những người đã đổi máu, nước mắt và tuổi trẻ lấy tự do và hạnh phúc hôm nay. Hiểu được điều ấy, ta sẽ học lịch sử bằng cả trái tim và biết sống xứng đáng để tiếp nối những giá trị mà cha ông đã xây dựng.




Câu 1: Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.

Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do, thể hiện qua các dấu hiệu:

  • Số chữ trong mỗi câu không đều.
  • Nhịp thơ linh hoạt, câu dài ngắn khác nhau.
  • Không bị ràng buộc bởi luật vần, số câu, số dòng như thơ lục bát hay thơ 5 chữ, 7 chữ.


Câu 2: Cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ

Đoạn thơ thể hiện:

  • Niềm tự hào về sức sống mạnh mẽ của đất nước sau chiến tranh.
  • Xúc động, biết ơn, cảm phục tinh thần hy sinh và kiên cường của nhân dân.
  • Tin tưởng vào tương lai đất nước sau ngày hòa bình.


Câu 3: Phân tích ý nghĩa của một biện pháp tu từ trong đoạn thơ

→ Biện pháp tu từ nổi bật: điệp cấu trúc / đối xứng, kết hợp với tương phản (quá khứ – hiện tại), ẩn dụ.

Ý nghĩa:

  • Làm nổi bật sức sống kì diệu, sự hồi sinh mạnh mẽ của con người sau cuộc chiến.
  • Tạo ấn tượng mạnh về một thế hệ lớn lên từ bom đạn nhưng vẫn tràn đầy niềm tin, yêu đời.
  • Nhấn mạnh tinh thần bất khuất: từ đau thương (triệu tấn bom rơi, bom vùi) đã nảy nở hạnh phúc (đến trường, may áo cưới).
  • Gợi niềm tự hào về con người Việt Nam biết đứng dậy, làm chủ cuộc sống.


Câu 4: “Vị ngọt” trong câu thơ cuối là vị của điều gì? Vị ngọt đó có được từ đâu?

“Vị ngọt” là:

  • Vị ngọt của chiến thắng, của hòa bình sau bao hy sinh mất mát.
  • Vị ngọt của hạnh phúc được sống, được dựng xây đất nước.
  • Vị ngọt của niềm tin và thành quả cách mạng từ Cách mạng Tháng Tám

Vị ngọt đó có được từ:

  • Sự hy sinh lớn lao của các thế hệ trong kháng chiến.
  • Tinh thần đoàn kết, kiên cường của nhân dân.
  • Những mất mát, đau thương đã trải qua để có ngày hòa bình hôm nay.


Câu 5: Suy nghĩ về ý nghĩa của lòng yêu nước 

Lòng yêu nước là giá trị tinh thần lớn lao mà đoạn thơ khơi dậy.

  • Yêu nước không chỉ là cầm súng chiến đấu, mà còn là lao động, học tập, xây dựng cuộc sống sau chiến tranh.
  • Người yêu nước biết trân trọng quá khứ, biết ơn những người đã hy sinh để đem lại hòa bình.
  • Trong thời bình, yêu nước thể hiện qua nỗ lực học tập, sống đẹp, sống có trách nhiệm, góp phần đưa đất nước phát triển.
  • Lòng yêu nước giúp ta hiểu rằng mọi thành quả hôm nay đều được đánh đổi bằng máu và nước mắt; vì vậy, cần biết giữ gìn, trân trọng và phát huy.

→ Yêu nước chính là sống có ích, cống hiến để tương lai đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.