Nguyễn Như Quỳnh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Như Quỳnh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Bài làm:

Nhân vật “tôi” trong đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm hiện lên là hình ảnh đẹp đẽ, cảm động của một người trẻ sống và chiến đấu giữa chiến tranh ác liệt. Trước hết, “tôi” là người trực tiếp đối diện với bom đạn, cái chết cận kề nhưng vẫn giữ được sự bình tĩnh, tỉnh táo để quan sát, ghi chép và suy nghĩ. Giữa không gian bị bom cày xới, nhà cửa tan hoang, thương binh ướt lạnh trong mưa, “tôi” không chỉ cảm nhận nỗi gian khổ bằng lí trí mà còn bằng trái tim nhạy cảm, giàu yêu thương. Nụ cười xen lẫn nước mắt cho thấy một tâm hồn kiên cường mà không vô cảm, mạnh mẽ nhưng vẫn chan chứa nhân ái. Đặc biệt, “tôi” luôn nghĩ đến người khác: lo cho thương binh, chia sẻ với đồng đội, và âm thầm giấu những nhọc nhằn của mình để người thân nơi hậu phương khỏi lo lắng. Qua đó, nhân vật “tôi” hiện lên như biểu tượng của lý tưởng sống cao đẹp, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, đồng thời là minh chứng cho vẻ đẹp của thế hệ thanh niên Việt Nam trong kháng chiến: sống giản dị, nhân hậu, dũng cảm và đầy trách nhiệm.

Câu 2: Bài làm: 

Mỗi chúng ta đêu là những bông hoa xinh đẹp trong một vườn hoa rực rỡ sắc màu. Mỗi người trong chúng ta đều có những thế mạnh riêng, năng lượng riêng tạo ra những nét đặc trưng của riêng ta. Tuy thế nhưng ta vẫn không thế nào không nhìn những "bông hoa" khác mà cảm thán: "Ôi sao bạn ấy đẹp thế". Chúng ta đều không tránh khỏi việc nhìn những người xung quanh, đặc biệt là những người đồng trang lứa để so sánh hơn kém. Từ đó xã hội xuất hiện cụm từ "Áp lực đồng trang lứa " hay còn gọi là "Peer Pressure". Áp lực đồng trang lứa chắc chắn là một vấn đề rất đáng quan tâm bởi lẽ nó ảnh hưởng trực tiếp đên những vị chủ nhân tương lai của đất nước.

Vậy áp lực đồng trang lứa là gì và nó ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta như thế nào? Áp lực đồng trang lứa là những mặc cảm, tự ti được sinh ra do nhìn thấy những người trạc tuổi bản thân đạt được những thành tựu mà bản thân không đạt được. Áp lực này được sinh ra khi chỉ với những bạn học sinh ngồi trên ghế nhà trường mà ngay cả người lớn, người đã tích lũy được lượng vốn sống nhất định vẫn có thể mắc phải. Đối với học sinh, các bạn không ngừng ganh đua nhau về thành tích học tập, điểm số, những tờ giấy khen. Ta có thể thấy rằng , rất nhiều bạn trẻ đua nhau đi học IELTS dẫu rằng đó không phải là điều quá cần thiết đối với các bạn. Có những bạn đi học, lấy bằng chỉ để thể hiện bản thân, chạy đua theo xu hướng mà không có một mục đích rõ ràng. Ta dễ dàng có thể bắt gặp những video khoe thành tích bản thân, khoe bằng cấp tràn lan khắp các nền tảng mạng xã hội.

Đó chính là những áp lực đến từ những người bạn cùng tuổi, khiến chúng ta tự cảm giác tự ti, mặc cảm và áp lực đó cũng thúc đẩy chúng ta đi học để chứng tỏ bản thân. Đối với những người trưởng thành, họ phải đối diện với những câu hỏi như "Lương tháng bao nhiêu thế?", "Đã có gia đình chưa?", "Làm nghê gì đấy?". Những câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng lại gây ra những áp lực vô cùng lớn. Nhìn những người bạn cùng lứa có cộng việc ổn định, gia đình hạnh phúc, tiền bạc rủng rỉnh khiến cho bản thân không thể tránh khỏi tủi thân, thất vọng về mình. Áp lực đồng trang lứa khiến cuộc sống của ta mệt mỏi hơn, xuất hiện nhiều cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại của chúng ta. Nghiêm trọng hơn, áp lực đó còn có thể dẫn đến trầm cảm và những suy nghĩ muốn làm lại bản thân. Như thế mới thấy, áp lực đồng trang lứa có tác động to lớn như thể nào.

Thế thì áp lực đó từ đầu mà sinh ra? Có hai nguyên nhân chính dẫn đến những cảm xúc tự ti đó. Thứ nhất là nguyên nhân chủ quan, do chính bản thân chúng ta đã tự tạo nên những áp lực vô hình đè nén bản thân chúng ta lại. Đặc biệt là khi còn trẻ, ở lứa tuổi mà chúng ta có khát khao thể hiện bản thân một cách mãnh liệt, những mong muốn khẳng định giá trị bản thân, khẳng định năng lực sục sôi. Thứ hai là nguyên nhân khách quan đến từ những kỳ vọng của gia đình và xã hội. Điển hình như việc hiện nay, vẫn có rất nhiều người quan niệm con trai trưởng, cháu đích tôn luôn phải có những công việc tốt, phải là người thành công, có gia đình hạnh phúc vì họ nghĩ chính những người cháu đó là bộ mặt của cả gia đình dòng họ. Từ đó đã tạo nên những áp lực vô cùng lớn lên những người cháu ấy, khiến cho họ không thể ngừng so sánh bản thân hơn người khác. Hay giữa các học sinh với nhau, chắc hẳn ai cũng biết đến khái niệm "con nhà người ta". Chính những "con nhà người ta" ấy đã khiến của nhiều bạn học sinh trở nên đau khổ, tiêu cực. Áp lực đồng trang lứa như một cái kén bao bọc chúng ta. Có những người sẽ nung nâu được sức mạnh đề phá kén ra và trở thành một con bướm rực rỡ khoe sắc giữa trời xanh, nhưng có những người không đủ sức mạnh vượt qua nó, cứ sống mãi cuộc đời mình trong chiếc kén chật hẹp với những cảm xúc tiêu cực bủa vây. Cái kén đó sẽ vẫn tồn tại mãi khi con người ta vẫn không ngừng kỳ vọng quá sức mạnh vào bản thân mình, gia đình không ngừng kì vọng vào con trẻ. 

Tuy thế nhưng ta không thể nào sống một cuộc đời vô tâm, vô tư, không có khát khao lý tưởng bởi lẽ "Tuổi trẻ không có lý tưởng như buổi sáng không có mặt trời". Những áp lực đôi khi sẽ là một lực đẩy vô cùng lớn giúp chúng ta bay cao, bay xa, bức phá ra khỏi mọi giới hạn của bản thân. Và mọi thành công, kết quả tốt đẹp đều đòi hỏi một quá trình khó khăn gian khô, công gai. Chúng ta đều biết "trăm năm là hữu hạn" cớ sạo lại không "sống cho thật sâu?". Hãy biến áp lực thành động lực để ta biến mình thành một phiên bản ngày càng tốt hơn. Chỉ cần có niềm tin và sự cố gắng thì mọi giới hạn đều có thể bị phá vỡ.

Đồng thời, bản thân chúng ta. gia đình, xã hội đều nên có những biện pháp làm giảm "áp lực đồng trang lứa" để tránh những hậu quả đáng tiếc về sau. Đã có rất nhiều vụ tự tử xảy ra do phải đối diện với những áp lực quá lớn, họ, những con người xấu số đã không thể chống chọi nữa, họ đã chịu đựng những áp lực trong một khoảng thời gian dài. Nhiều người cho rằng "Trẻ em chỉ cần đi học thôi thì có áp lực gì đâu?" Thế nhưng những vụ tự sát, nhảy lầu với mật độ ngày càng nhiều chính là minh chứng rõ ràng cho thầy trẻ vị thành niên cũng phải đối diện với rất nhiều áp lực mà một trong đó là áp lực đồng trang lứa. Để giảm thiểu những kết quả không mong muốn đó, chúng ta nên trân trọng bản thân nhiều hơn, yêu thương bản thân mình nhiêu một chút. Bởi vì ta sống để hạnh phúc chứ không phải để người khác thấy mình giỏi thế nào. Cuộc đời này ngắn như thế, vì sao chúng ta phải sống theo suy nghĩ của người khác, hãy cứ là chính mình vì tôi tuyệt nhất khi là tôi. Gia đình và xã hội cũng nên quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của con trẻ, ta có thể khích lệ, động viên chứ đừng áp đặt. Hãy dành cho con em mình nhiều lời khen hơn, nhiều lời động viên hơn.

Những bông hoa xinh đẹp ơi. Trong mắt tôi, các bạn đề thật đẹp chẳng cần phải tự ti về những gì thuộc về bản thân mình. Có thể húng ta không phải là người hoàn hảo nhất nhưng chúng ta là phiên bản duy nhất và độc nhất. Mỗi chúng ta đều thật đặc biệt nên không cần phải mặc cảm đâu nhé. Và cuối cùng, hãy chung tay để "áp lực đồng trang lứa" giảm xuống, để mọi người đều biết cách yêu thương bản thân mình hơn.

Câu 1: Thuộc thể loại nhật ký.

Câu 2: Sau bốn loạt bom, cảnh vật hiện lên hoang tàn, đổ nát. Con người dù may mắn không bị thương nhưng cũng rơi vào tình trạng hoảng hốt, lo lắng và phải nhanh chóng tìm nơi ở mới vì nơi ở hiện tại đã bị phát hiện.

Câu 3: Biện pháp tự từ liệt kê được sử dụng trong đoạn trích trên đã giúp liệt kê ra những sự việc, sự vật của chiến tranh, giúp người đọc hình dung cụ thể, sinh động mức độ nghiêm trọng của vụ nổ bom, nhấn mạnh sự tàn phá của chiến tranh. Liệt kê số lượng thương binh và y tá cũng làm nổi bật sự thiếu thốn và khó khắn của hoàn cảnh lúc đó.

Câu 4:

Đoạn trích thể hiện sự bình tĩnh, mạnh mẽ và trách nhiệm của Đặng Thùy Trâm. Dù trải qua một trận bom kinh hoàng, chị vẫn ghi chép lại sự việc một cách khách quan, không hề có biểu hiện hoảng loạn thái quá. Việc chị quan sát và ghi nhận chi tiết về thiệt hại, cũng như việc đề cập đến việc tìm nơi ở mới cho mọi người cho thấy sự tỉnh táo và trách nhiệm của chị đối với đồng đội.

Câu 5: Đoạn trích nhắc nhở thế hệ trẻ về hậu quả tàn khốc của chiến tranh và tầm quan trọng của hòa bình. Trách nhiệm của thế hệ trẻ là học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước, góp phần bảo vệ nền độc lập, tự do và hạnh phúc mà thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu để giành lấy. Chúng ta cần trân trọng những hy sinh đó và nỗ lực không ngừng để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, tránh để lịch sử đau thương lặp lại. Hơn nữa, việc hiểu biết về lịch sử, về những mất mát trong chiến tranh sẽ giúp thế hệ trẻ có trách nhiệm hơn trong việc gìn giữ hòa bình và phát triển đất nước.

Câu 1: Bài làm: 

Nhân vật phu nhân trong “Người liệt nữ ở An Ấp” hiện lên là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp người phụ nữ trong quan niệm đạo đức truyền thống. Trước hết, bà là người vợ hiền, tài sắc vẹn toàn, không chỉ giỏi nữ công gia chánh mà còn có tài văn thơ, biết dùng lời thơ để khuyên can chồng tu dưỡng, lập thân vì đại nghĩa. Trong quan hệ vợ chồng, phu nhân luôn thể hiện sự khiêm nhường, lễ độ, đặt phận sự của chồng với đất nước lên trên tình cảm riêng tư. Khi Đinh Hoàn nhận mệnh đi sứ, bà dẫu đau đớn, lo lắng vẫn không ngăn cản, cho thấy ý thức sâu sắc về đạo lí trung quân, ái quốc. Đặc biệt, trước cái chết của chồng, phu nhân một lòng thủ tiết, sống trong nỗi thương nhớ tuyệt vọng và cuối cùng lựa chọn cái chết để giữ trọn chữ tình, chữ nghĩa. Bi kịch của phu nhân vừa gợi niềm cảm thương sâu sắc, vừa phản ánh lí tưởng trinh liệt khắt khe của xã hội phong kiến, nơi người phụ nữ phải hi sinh trọn vẹn đời mình cho đạo nghĩa và danh tiết

Câu 2: Bài làm: 

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, hình ảnh người trí thức luôn gắn liền với vận mệnh đất nước. Qua hình tượng Đinh Hoàn – một kẻ sĩ tận trung với triều đình, hi sinh cả tính mạng vì việc nước, văn bản đã gợi lên vấn đề có ý nghĩa thời đại: trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước.

Trước hết, trách nhiệm cao nhất của người trí thức là đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Đinh Hoàn sinh ra trong thời loạn lạc, sớm mồ côi, nhưng nhờ học vấn và tài năng đã bước vào con đường làm quan. Khi triều đình cần người đi sứ trong hoàn cảnh gian nan, hiểm nguy, ông không do dự mà sẵn sàng nhận mệnh, coi đó là lẽ sống và chí hướng cả đời. Ngay cả lúc đối diện cái chết nơi đất khách, điều khiến ông day dứt không phải bản thân mà là “việc nước chưa lo trọn vẹn”. Điều đó cho thấy phẩm chất cốt lõi của kẻ sĩ chân chính: sống vì nghĩa lớn, chết không thẹn với non sông.

Bên cạnh đó, người trí thức còn có trách nhiệm dùng tri thức và tài năng để phụng sự đất nước. Đinh Hoàn không chỉ là một vị quan tận tụy mà còn là một trí thức tài hoa, để lại nhiều bài thơ được người đời ca ngợi. Ở ông, trí tuệ không tồn tại như thứ trang sức cá nhân mà trở thành công cụ để khẳng định bản lĩnh, nhân cách và lí tưởng sống. Điều này nhắc nhở rằng tri thức chỉ thực sự có giá trị khi gắn liền với trách nhiệm xã hội và ý thức cống hiến.

Từ hình tượng Đinh Hoàn, nhìn về hiện tại, trách nhiệm của người trí thức càng trở nên rõ ràng và cấp thiết. Trong thời đại hội nhập và phát triển, trí thức không nhất thiết phải hi sinh theo nghĩa bi tráng như xưa, nhưng cần có lòng yêu nước tỉnh táo, bản lĩnh trước cám dỗ vật chất, dám lên tiếng bảo vệ lẽ phải, dám dấn thân vì lợi ích chung. Trí thức hôm nay phải là người học tập không ngừng, sáng tạo, đóng góp tri thức cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Có thể nói, Đinh Hoàn là biểu tượng đẹp của người trí thức “vì nước quên thân”. Hình tượng ấy không chỉ thuộc về quá khứ mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi người trí thức hôm nay: tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong mối quan hệ trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân.

Câu 1: Thuộc thể loại truyện truyền kì.

Câu 2: Văn bản trên viết về đề tài người phụ nữ

-Một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, bất hạnh trong hôn nhân và cuộc đời, nhưng vẫn giữ vững khí tiết, phẩm giá và tinh thần bất khuất.

Câu 3: Yếu tố kì ảo: Giấc mơ của phu nhân, nơi bà gặp lại người chồng đã khuất. Ông hiện về trong hình dạng lúc sống, trò chuyện và an ủi vợ về sự tái hợp trong kiếp sau, chi tiết hồn ông Đinh Hoàn biến mất. Chi tiết đền thiêng linh ứng. Chi tiết thư sinh họ Hà gặp và tranh luận với phu nhân ở đền Liệt nữ.

Tác dụng: Yếu tố kì ảo này không nhằm gây sợ hãi mà tạo nên không khí huyền hồ, linh thiêng, giúp khắc sâu nỗi đau mất mát, sự thủy chung tuyệt đối của người vợ. Đồng thời, nó thể hiện niềm tin của văn học trung đại vào sự giao cảm giữa cõi âm và cõi dương, làm nổi bật vẻ đẹp trinh liệt, nghĩa tình và tô đậm chất truyền kì của tác phẩm.

Câu 4: Văn bản sử dụng nhiều điển tích, điển cố như "Khương hậu", "Từ phi", "Lục Chân", "Ngưu Lang, Chức Nữ", "Vi Ngọc Tiên", "Dương Thái Chân"… Những điển tích này giúp câu chuyện trở nên uyển chuyển, trang trọng, giàu chiều sâu văn hóa, đồng thời đặt nhân vật vào hệ quy chiếu đạo đức quen thuộc của xã hội phong kiến, qua đó đề cao các giá trị trung, trinh, tiết, nghĩa. Điển tích gây ấn tượng sâu sắc nhất là "Ngưu Lang, Chức Nữ" bởi nó gợi niềm xót xa cho mối tình cách trở âm dương, phản chiếu nỗi khắc khoải được đoàn tụ của người liệt nữ, làm cho bi kịch tình yêu thêm thấm thía.

Câu 5: Không gian nghệ thuật trong văn bản là sự kết hợp giữa cõi trần và cõi âm (thiên giới). Điều này thể hiện qua các chi tiết: Đinh Hoàn “về chầu thiên đình”, linh hồn ông hiện về gặp phu nhân, lời hẹn ngày tái ngộ, sự giao cảm giữa người sống và người đã khuất. Việc xây dựng không gian đa cõi ấy tạo nên tính truyền kì đặc trưng, mở rộng biên độ hiện thực, làm cho câu chuyện vượt khỏi giới hạn đời thường. Qua đó, tác giả khẳng định sự bất tử của tình nghĩa vợ chồng và đạo trung trinh, đồng thời gửi gắm quan niệm nhân sinh của văn học trung đại: nghĩa tình con người có thể vượt qua ranh giới sinh và tử.

Câu 1: Bài làm: 

"Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con Tàu" ("Tiếng hát con tàu" - Chế Lan Viên). Tây Bắc từ lâu đã được xem như một mành đất hứa cho văn chương nghệ thuật, bởi vùng núi ấy không chỉ để lại nhiều ân tình mà còn khiến cho các nhà văn, nhà thơ có được những nguồn cảm hứng bất tận. Nếu như Nguyễn Huy Tưởng đã có cho mình cuốn tiểu thuyết "Bốn năm sau", Tô Hoài ghi dấu ấn với "Vợ chồng A Phủ" thì Nguyễn Tuân lại thăng hoa trên mành đất này với tập "Tùy bút Sông Đà" mà linh hồn là bài kí "Người lái đò Sông Đà". Thường thức bài kí, người đọc không khỏi ấn tượng với vẻ đẹp của con sông Đà và trong mạch nguồn cảm hứng ấy, Nguyễn Tuân đã nhìn sông Đà không chỉ bằng đôi mắt của người lữ hành mà còn bằng trái tim của một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp tuyệt đích. Ở đoạn trích này, con sông Đà hiện ra trước hết trong trạng thái tĩnh lặng đến hóa cổ kính, “lặng tờ” như thể đã bất biến từ “đời Trần, đời Lê”, khiến dòng chảy không chỉ trôi trong không gian mà còn thấm sâu vào chiều dài lịch sử dân tộc. Sự tĩnh lặng ấy mở ra một thế giới thiên nhiên nguyên sơ, tinh khiết và chưa bị bàn tay con người chạm tới: nương ngô non đầu mùa, cỏ gianh ra nõn búp, đàn hươu thơ ngộ cúi mình trong sương đêm. Những hình ảnh ấy không chỉ giàu sức gợi mà còn mang vẻ đẹp của buổi ban sơ, của “bờ tiền sử”, “nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”, khiến sông Đà như bước ra từ huyền thoại. Thiên nhiên trong trang văn Nguyễn Tuân không vô tri mà đầy linh hồn: con hươu biết “nhìn không chớp mắt”, dòng sông biết “lắng nghe”, biết “nhớ thương” những hòn đá thác nơi thượng nguồn xa xôi. Đặc biệt, cách so sánh sông Đà với “một người tình nhân chưa quen biết” đã nâng dòng sông lên tầm một sinh thể có cảm xúc, có chiều sâu tâm trạng, vừa e ấp, kín đáo vừa gợi thương gợi nhớ. Tất cả đã làm nên một bức tranh sông Đà vừa trữ tình, vừa giàu chất thơ, thấm đẫm chất văn hóa và tâm hồn Việt, qua đó khẳng định tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân, người đã gửi cả tình yêu đất nước, niềm say mê thiên nhiên và phong cách tài hoa của mình vào từng con chữ.



Câu 2: Bài làm: 

Trong kỉ nguyên tri thức bùng nổ và biến đổi không ngừng, ý thức tự học không còn là một lựa chọn mà đã trở thành điều kiện sống còn đối với mỗi người trẻ trên hành trình khẳng định giá trị bản thân. Tự học chính là khả năng chủ động tìm kiếm tri thức, rèn luyện kĩ năng và hoàn thiện nhân cách mà không phụ thuộc hoàn toàn vào sự dẫn dắt của người khác. Khi nhà trường chỉ có thể trao cho người học “chiếc chìa khóa”, thì tự học chính là cánh cửa mở ra thế giới rộng lớn của hiểu biết và trưởng thành.

Trước hết, ý thức tự học giúp giới trẻ làm chủ việc học và cuộc đời mình. Trong thời đại công nghệ số, kiến thức luôn được cập nhật, nếu chỉ trông chờ vào bài giảng trên lớp, người trẻ sẽ nhanh chóng bị tụt lại phía sau. Tự học giúp họ chủ động đào sâu vấn đề, mở rộng tư duy, biến kiến thức tiếp nhận thụ động thành hiểu biết của riêng mình. Quan trọng hơn, quá trình tự học rèn luyện tính kiên trì, tinh thần trách nhiệm và khả năng tự quản lí, những phẩm chất không thể thiếu để thành công trong học tập cũng như nghề nghiệp sau này.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít bạn trẻ hiện nay chưa coi trọng tự học. Nhiều người học đối phó, học để thi, lệ thuộc hoàn toàn vào thầy cô, sách giải hay các nguồn “tóm tắt nhanh” trên mạng. Sự hấp dẫn của mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và lối sống hưởng thụ khiến không ít bạn trẻ ngại suy nghĩ, lười đọc, thiếu chiều sâu tri thức. Hệ quả là kiến thức hổng, tư duy hạn chế, thiếu bản lĩnh trước những lựa chọn quan trọng của cuộc đời.

Nguyên nhân của thực trạng ấy không chỉ đến từ bản thân người trẻ mà còn từ gia đình và xã hội. Sự bao bọc quá mức của cha mẹ, cách dạy học nặng về truyền thụ, nhẹ về khơi gợi tư duy, cùng với áp lực điểm số đã vô tình làm giảm tinh thần tự học. Dù vậy, trách nhiệm lớn nhất vẫn thuộc về chính người trẻ, bởi không ai có thể học thay hay sống thay họ.

Nhận thức được tầm quan trọng của tự học, mỗi bạn trẻ cần thay đổi thái độ và phương pháp học tập. Tự học không phải là học một cách cô lập mà là biết đặt câu hỏi, biết tìm kiếm, biết chọn lọc thông tin và biến tri thức thành hành động. Người trẻ cần xây dựng mục tiêu rõ ràng, thói quen đọc sách, khả năng tự đánh giá và tinh thần học hỏi suốt đời. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, tôn trọng sự khác biệt và nuôi dưỡng đam mê học tập.

Ý thức tự học chính là thước đo bản lĩnh của giới trẻ trong thời đại mới. Khi biết tự học, người trẻ không chỉ tích lũy tri thức mà còn học cách làm chủ tương lai, tự tin bước đi trên con đường của chính mình và đóng góp giá trị bền vững cho xã hội.

Câu 1: Thể thơ tự do

Câu 2: Tiếng kim đồng hồ trở nên khủng khiếp vì nó không chỉ đo thời gian mà nhắc con người về sự trôi đi không thể đảo ngược của đời sống. Trong tĩnh lặng, mỗi tiếng “tích tắc” gõ vào nỗi cô đơn, lo âu và chờ đợi, khiến con người ý thức rõ về sự hữu hạn của mình. Nó đều đặn, vô cảm, không dừng lại — như thời gian, vẫn trôi dù ta sợ hãi hay tiếc nuối.

câu 3: Hai câu thơ sử dụng biện pháp tu từ so sánh kết hợp với tương phản.

Tác giả đặt “hai tiếng động nhỏ bé” đối lập với “mọi ầm ào gào thét” để làm nổi bật nghịch lí: cái rất nhỏ, rất khẽ lại có sức ám ảnh mạnh mẽ hơn mọi âm thanh ồn ào. Qua đó, câu thơ khắc sâu tác động ghê gớm của tiếng động tưởng như vô hình, đồng thời gợi ra sức nặng tinh thần và nỗi ám ảnh âm thầm trong tâm hồn con người.

Câu 4: Trong hai câu thơ cuối, Lưu Quang Vũ cảm nhận thời gian không còn là dòng chảy vô nghĩa, mà là chất liệu sáng tạo và hành động. Từ những sự vật và ngày tháng bình thường, nhỏ bé, con người có thể biến thời gian thành hành trình, thành khát vọng lên đường, thành ý nghĩa sống. Thời gian vì thế mang giá trị chủ động, tích cực, gắn với dấn thân và lựa chọn của con người.

Câu 5: Hai cách cảm nhận về thời gian trong đoạn trích chi phối sâu sắc đời sống con người. Khi thời gian được cảm nhận như sự trôi đi không trở lại, nó đánh thức ý thức về giới hạn đời người, khiến con người biết trân trọng từng khoảnh khắc, sống tỉnh thức hơn. Khi thời gian được nhìn như chiều dài yêu thương và chiều dày sáng tạo, nó thôi thúc con người hành động, cống hiến và biến điều bình thường thành ý nghĩa. Sự kết hợp hai cách nhìn ấy giúp con người sống có trách nhiệm, có khát vọng và không hoài phí thời gian của chính mình.


Câu 1 (2 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày tác hại của hiện tượng tâm lí đám đông ở giới trẻ.



Hiện tượng tâm lí đám đông là khi con người dễ dàng hành động, suy nghĩ, hoặc cảm xúc theo số đông mà thiếu đi sự tỉnh táo và bản lĩnh riêng. Ở giới trẻ, tâm lí này ngày càng phổ biến và gây ra nhiều tác hại đáng lo ngại. Trước hết, nó khiến các bạn đánh mất bản sắc cá nhân, sống theo “mẫu số chung” mà quên đi giá trị riêng biệt của mình. Khi chạy theo trào lưu một cách mù quáng, nhiều bạn đánh đổi thời gian, tiền bạc, thậm chí nhân cách, chỉ để được “hòa nhập” hay “nổi bật” trong mắt người khác. Tâm lí đám đông cũng có thể dẫn đến hành vi lệch chuẩn, ví dụ như cổ vũ bạo lực, lan truyền tin giả, hoặc tham gia các xu hướng tiêu cực trên mạng xã hội mà không lường hết hậu quả. Nguyên nhân là do thiếu bản lĩnh, thiếu khả năng nhận định và khẳng định cái tôi đúng đắn. Vì vậy, mỗi người trẻ cần rèn luyện lối sống tự chủ, biết chọn lọc, biết nghĩ và dám khác biệt, để không bị cuốn trôi giữa đám đông mà vẫn giữ được chính mình.



Câu 2. So sánh, đánh giá hai đoạn trích “Ông ngoại” và “Giàn bầu trước ngõ” của Nguyễn Ngọc Tư



Nguyễn Ngọc Tư – người con gái của đất Cà Mau – luôn mang đến cho văn học Việt Nam một giọng điệu rất riêng: nhẹ nhàng, dung dị nhưng thấm thía, như một lời thủ thỉ từ trái tim. Hai truyện ngắn “Ông ngoại” và “Giàn bầu trước ngõ” là hai lát cắt tinh tế trong bức tranh tình cảm gia đình, nơi dòng chảy yêu thương lặng lẽ chảy qua những thế hệ, âm thầm mà sâu sắc, giản dị mà lay động lòng người.


Trong “Ông ngoại”, Nguyễn Ngọc Tư để nhân vật trung tâm là cô bé Dung – ban đầu còn trẻ con, ích kỉ, ngại ở với ông vì “buồn muốn chết”, vì sợ cái tĩnh lặng của người già. Nhưng chính trong khoảng không im ắng ấy, cô đã học được cách lắng nghe, cảm nhận, thấu hiểu và yêu thương. Từ chỗ chỉ nhìn thấy “sự khó tính”, Dung nhận ra đằng sau dáng người gầy guộc, mái tóc bạc phơ là một tấm lòng hiền hậu, bao dung, âm thầm chăm chút từng chậu cây, từng con cá, âm thầm quan tâm đứa cháu nhỏ bằng nỗi lo không lời. Sự thay đổi của Dung – từ vô tâm đến biết sẻ chia – là hành trình trưởng thành bằng trái tim, là minh chứng cho sức mạnh cảm hóa của tình thân. Cảnh cuối, khi Dung hát cho ông nghe, hai thế hệ tưởng chừng xa cách bỗng tìm thấy điểm chung – đó chính là âm điệu dịu dàng của yêu thương.


Nếu “Ông ngoại” là bản nhạc ấm áp của sự hòa hợp, thì “Giàn bầu trước ngõ” lại là khúc buồn da diết về nỗi cô đơn và hoài niệm của người bà xa quê. Giàn bầu – thứ tưởng nhỏ nhoi, vướng víu – lại là sợi dây níu giữ ký ức quê hương, là biểu tượng cho tình yêu nguồn cội không bao giờ tắt. Trong căn nhà sang trọng, hiện đại, người bà trở nên lạc lõng, còn con cháu thì dửng dưng trước những điều mộc mạc từng làm nên hồn quê. Cái nheo mắt buồn của bà khi gọt vỏ bầu, cái lò đất bốc khói cay xè, chiếc mặt dây chuyền hình trái tim bé xíu – tất cả đều như nhói lên một nỗi nhớ không thể gọi tên. Và khi bà ngã bệnh, ngồi lặng dưới giàn bầu thưa lá, người đọc bỗng nhận ra: có thể đưa con người rời xa quê hương, nhưng không thể nào tách quê hương ra khỏi trái tim họ.


Cả hai đoạn trích, tuy kể hai câu chuyện khác nhau, lại cùng gặp nhau ở một điểm: tình cảm gia đình là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn con người. Nguyễn Ngọc Tư không triết lí to tát, không kêu gào, chỉ nhẹ nhàng kể chuyện đời, mà khiến ta rưng rưng. Bà khiến người đọc soi thấy chính mình – giữa nhịp sống hiện đại hối hả, ta nhiều khi vô tình quên mất một mái tóc bạc, một giàn bầu, một tiếng ho khan… mà trong đó chứa cả trời thương nhớ.


Với giọng văn Nam Bộ mộc mạc, ấm áp, Nguyễn Ngọc Tư viết bằng trái tim của người con gái yêu thương đến tận cùng những điều bé nhỏ. “Ông ngoại” gieo vào lòng người đọc niềm tin rằng tình yêu thương có thể hàn gắn mọi khoảng cách; “Giàn bầu trước ngõ” lại nhắc ta nhớ: gốc rễ yêu thương và quê hương là điều không bao giờ được lãng quên.

Cả hai tác phẩm – hai giai điệu khác nhau – nhưng cùng hòa thành một bản nhạc dịu dàng về tình thân, lòng biết ơn và vẻ đẹp nhân hậu của con người Việt Nam.



Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận.


Câu 2. Theo đoạn trích, ta cần thiết trân trọng và chăm sóc bản thân vì chính ta là người hiểu rõ nhất nỗi đau, nỗi sợ và cảm xúc của mình, không ai khác có thể thay ta làm điều đó.


Câu 3. Việc sử dụng ngạn ngữ trong phần mở đầu có tác dụng tăng tính thuyết phục và gợi sự đồng thuận nơi người đọc, đồng thời làm nền tảng dẫn dắt cho lập luận về việc yêu thương và chăm sóc bản thân.


Câu 4. Câu “Qua thái độ của ta với bản thân, ta đã lặng lẽ dẫn dắt họ cách đối xử với ta” có nghĩa là nếu ta tôn trọng, yêu thương chính mình, người khác cũng sẽ tôn trọng ta, còn nếu ta tự ti hay xem thường bản thân thì người khác cũng dễ coi nhẹ ta.


Câu 5. Em đồng tình với ý kiến này vì chỉ khi biết tự yêu thương và bảo vệ mình, ta mới có thể sống vững vàng, bình an, không phụ thuộc vào sự quan tâm của người khác và có đủ sức mạnh để vượt qua khó khăn trong cuộc sống.