Lê Minh Tân
Giới thiệu về bản thân
a. Các quyền và nghĩa vụ bị vi phạm Về phía ông K (Nghĩa vụ): Vi phạm nghĩa vụ của cán bộ trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội; thiếu trung thực, công tâm và minh bạch khi phân phối nguồn lực cứu trợ. Về phía người dân (Quyền): Xâm phạm quyền được đảm bảo an sinh xã hội của những hộ gia đình thực sự bị thiệt hại (họ bị mất đi phần hỗ trợ đáng lẽ được nhận). b. Hậu quả của hành vi Đối với ông K: * Bị kỷ luật, sa thải hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy mức độ vi phạm. Mất uy tín, danh dự và sự tin tưởng từ đồng nghiệp, nhân dân. Đối với cộng đồng: Gây lãng phí ngân sách và nguồn lực cứu trợ của nhà nước/nhân dân. Làm sai lệch ý nghĩa của chính sách an sinh xã hội, gây mất công bằng. Làm giảm lòng tin của người dân vào chính quyền địa phương.
Lợi nhuận trong kinh doanh là quan trọng, nhưng không bao giờ được đặt trên sức khỏe của cộng đồng và sự thượng tôn pháp luật. Anh Tuấn có thể phải đối mặt với các hình phạt hành chính hoặc hình sự nếu bị cơ quan chức năng phát hiện.
Câu 1 (2 điểm): Phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích. Vẻ đẹp lặng tờ, hoang dại: Cảnh ven sông được miêu tả "lặng tờ" như từ đời Trần đời Lê, mang vẻ đẹp của một "bờ tiền sử", "nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng: Hình ảnh những nương ngô nhú lá non, những con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông như bạc rơi thoi. Vẻ đẹp đầy sức sống nhưng êm đềm: Sông Đà lúc này không còn hung bạo mà trở nên "lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi", mang tâm hồn của một người tình nhân chưa quen biết. Câu 2 (4 điểm): Nghị luận về vấn đề ý thức tự học ở giới trẻ. Mở bài: Khẳng định tầm quan trọng của việc học và đặc biệt là ý thức tự học trong kỷ nguyên tri thức. Thân bài: Giải thích: Tự học là quá trình chủ động chiếm lĩnh tri thức mà không cần sự thúc ép. Thực trạng: Một bộ phận giới trẻ chủ động học hỏi qua internet, sách báo; nhưng cũng có bộ phận thụ động, ỷ lại vào công nghệ. Ý nghĩa: Tự học giúp con người nắm vững kiến thức bền vững, rèn luyện tư duy độc lập và khả năng thích nghi cao. Giải pháp: Cần xây dựng mục tiêu học tập rõ ràng, rèn luyện tính kỷ luật và ham học hỏi. Kết bài: Liên hệ bản thân và khẳng định: "Tự học là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công".
Đề 1: Văn bản "Truyện người liệt nữ ở An Ấp" (Đoàn Thị Điểm) I. Phần Đọc hiểu Câu 1 (0,5 điểm): Văn bản thuộc thể loại nào? Văn bản thuộc thể loại truyền kì (nằm trong tập Truyền kì tân phả). Câu 2 (0,5 điểm): Văn bản viết về đề tài gì? Đề tài: Người phụ nữ. Cụ thể là ca ngợi phẩm hạnh, sự thủy chung và đức hy sinh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Câu 3 (0,5 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo. Yếu tố kì ảo: Phu nhân nằm mộng thấy chồng (Đinh Hoàn) từ cõi chết trở về trò chuyện; Đinh Hoàn nói mình đang làm quan ở "cõi tiên" (thiên tào); sau khi phu nhân mất, việc cầu đảo đều có "linh ứng". Tác dụng: * Thần thánh hóa và ngợi ca phẩm chất tiết hạnh của người liệt nữ. Tạo nên sự hấp dẫn, kì bí cho câu chuyện và thể hiện quan niệm về sự tồn tại của linh hồn, sự giao thoa giữa cõi thực và cõi ảo. II. Phần Viết Câu 1 (2,0 điểm): Phân tích nhân vật phu nhân (khoảng 200 chữ). Vẻ đẹp toàn diện: Bà là người có dung hạnh thanh nhã, đoan trang, khéo léo việc nữ công và giỏi văn thơ. Lòng thủy chung tuyệt đối: Sau khi chồng mất, bà không màng đến thế sự, chỉ lo thờ phụng và giữ trọn nghĩa tình. Sự quyết liệt trong danh dự: Bà chọn cái chết để vẹn toàn đạo vợ chồng, không muốn sống một mình trong nỗi đau chia cắt. Đây là hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ theo quan niệm đạo đức xưa. Câu 2 (4,0 điểm): Trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước. Từ hình tượng Đinh Hoàn: Một vị tiến sĩ trẻ, dù sức yếu vẫn dấn thân đi sứ vì việc nước, đến lúc chết vẫn băn khoăn vì chưa lo trọn vẹn trách nhiệm với quốc gia. Liên hệ thực tế: Người trí thức ngày nay cần đóng góp trí tuệ, sức lực cho sự phát triển của đất nước, giữ vững khí tiết và trách nhiệm với cộng đồng. Đề 2: Văn bản thơ "Cho Quỳnh những ngày đi xa" (Lưu Quang Vũ) Câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ nào? Thể thơ: Tự do. Câu 2: Vì sao tiếng "Kim đồng hồ tích tắc" lại trở thành tiếng động khủng khiếp nhất? Vì nó là biểu tượng của thời gian đang trôi đi. Nó nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi của đời người và sự thật rằng mỗi giây phút qua đi sẽ không bao giờ trở lại, dẫn dần đến cái kết thúc ("đợi ta ở cuối"). Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh: "Hai tiếng động nhỏ bé kia / Hơn mọi ầm ào gào thét". Tác dụng: Nhấn mạnh sức mạnh vô hình nhưng mãnh liệt của thời gian. Dù âm thanh tích tắc rất nhỏ bé nhưng áp lực mà nó đè nặng lên tâm trí con người còn lớn hơn bất kỳ tiếng động cơ học hay tự nhiên nào khác. Câu 4: Lưu Quang Vũ có cách cảm nhận thời gian như thế nào trong hai câu thơ cuối? Tác giả cảm nhận thời gian gắn liền với giá trị sự sống: Đó là "chiều dài những ngày ta sống bên nhau" (tình yêu) và "chiều dày những trang ta viết" (sự nghiệp, sáng tạo). Thời gian không chỉ là đại lượng vật lý mà là thước đo của hạnh phúc và sự cống hiến. Câu 5: Theo anh/chị, hai cách cảm nhận về thời gian sẽ chi phối như thế nào tới đời sống con người? Cách 1 (Sợ hãi thời gian): Giúp con người sống có kỷ luật, trân trọng từng phút giây vì biết thời gian là hữu hạn. Cách 2 (Thời gian của yêu thương và lao động): Giúp con người sống ý nghĩa, xua tan nỗi sợ cái chết bằng cách để lại những giá trị tốt đẹp cho cuộc đời.
Vẻ đẹp ngoại hình và tài năng: Bà là con nhà quan, có dung hạnh thanh nhã, cử chỉ đoan trang, khéo léo việc thêu thùa và đặc biệt giỏi văn thơ. Vẻ đẹp tâm hồn (Trọng tâm): Sự khiêm nhường, đức độ: Khi về nhà chồng, bà tự sửa mình theo khuôn phép, lễ độ và hết mực tôn trọng chồng. Lòng thủy chung, nghĩa tình: Khi chồng đi sứ rồi mất ở phương xa, bà đau xót khôn nguôi, viết văn tế ca ngợi công đức của chồng. Bà giữ trọn tiết hạnh, không màng thế sự, tâm hồn luôn hướng về người quá cố. Sự quyết liệt trong phẩm giá: Bà chọn cái chết để vẹn toàn nghĩa phu thê ("nguyện hi sinh theo chồng"), coi cái chết nhẹ tựa hồng mao để giữ trọn lòng trinh bạch. Đánh giá: Phu nhân là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam truyền thống với đầy đủ công - dung - ngôn - hạnh và lòng trung trinh lẫm liệt. Câu 2 (4,0 điểm): Trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước (Từ hình tượng Đinh Hoàn). Từ hình tượng Đinh Hoàn: Ông là người trí thức (tiến sĩ) hết lòng vì việc nước, dù sức yếu vẫn lo lắng cho đại cuộc, đến lúc lâm chung vẫn chỉ "băn khoăn việc nước chưa lo trọn vẹn". Suy nghĩ về trách nhiệm người trí thức: Trí thức là "hiền tài", là "nguyên khí quốc gia". Trách nhiệm đầu tiên là dùng tài năng, kiến thức để cống hiến, xây dựng đất nước. Phải có tâm huyết, sẵn sàng dấn thân vào những nơi gian khó, gánh vác trọng trách khi quốc gia cần (như việc Đinh Hoàn đi sứ). Giữ vững khí tiết, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao cả, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì (cụ thể là nằm trong tập Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm). Câu 2: Văn bản trên viết về đề tài gì? (0,5 điểm) Văn bản viết về đề tài người phụ nữ, cụ thể là ca ngợi phẩm hạnh, lòng thủy chung son sắt và sự hy sinh của một người liệt nữ đối với chồng trong xã hội phong kiến. Câu 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản trên. (0,5 điểm) Các yếu tố kì ảo tiêu biểu: Chi tiết phu nhân trong lúc mơ màng đã nhìn thấy người chồng đã mất (Đinh Hoàn) từ phương xa trở về trò chuyện, giải thích nỗi niềm. Lời đối thoại về việc Đinh Hoàn đang làm quan ở "cõi tiên" (chầu Thiên Đình, trông coi việc bút nghiên ở thiên tào). Chi tiết sau khi bà mất, người dân địa phương lập đền thờ và "cầu đảo đều có linh ứng". Tác dụng của yếu tố kì ảo: Về nội dung: * Làm lý tưởng hóa vẻ đẹp tâm hồn và lòng thủy chung của người liệt nữ. Thể hiện khát vọng của tác giả về sự bất tử của cái đẹp, cái thiện; cho rằng những người có tình nghĩa sâu nặng sẽ vượt qua được giới hạn của cái chết để hội ngộ. Về nghệ thuật: * Tạo nên màu sắc huyền bí, lung linh, hấp dẫn cho câu chuyện theo đặc trưng của thể loại truyền kì. Giúp cốt truyện có sự biến hóa, gợi sự tò mò và tăng sức biểu cảm cho văn bản.
Câu 1 (200 chữ): Viết đoạn văn trình bày tác hại của tâm lí đám đông ở giới trẻ Trong cuộc sống hiện đại, tâm lí đám đông xuất hiện nhiều ở giới trẻ và gây ra những tác hại đáng lo ngại. Tâm lí đám đông khiến người trẻ dễ bị cuốn theo số đông mà thiếu đi khả năng suy nghĩ độc lập. Khi thấy bạn bè làm theo một xu hướng nào đó, từ ăn mặc, tiêu tiền, phát ngôn trên mạng xã hội đến hành vi tiêu cực ngoài đời, nhiều bạn trẻ sẵn sàng làm theo chỉ để “không bị khác biệt”, bất chấp đúng sai. Điều này dẫn đến hậu quả là sự lệch lạc trong lối sống và suy nghĩ. Nhiều bạn sẵn sàng chạy theo trào lưu độc hại, ví dụ như cổ xúy bạo lực mạng, quay clip phản cảm để câu view, hoặc đua đòi phí phạm tiền bạc vào những thứ xa xỉ không phù hợp với điều kiện của bản thân. Tâm lí đám đông còn khiến giới trẻ đánh mất bản sắc cá nhân, mất đi cơ hội phát triển tư duy và tài năng riêng. Một khi chỉ sống theo đám đông, người trẻ rất dễ đưa ra quyết định sai lầm, dẫn đến hậu quả tiêu cực cho bản thân và cả xã hội. Vì vậy, điều quan trọng là mỗi người cần học cách suy nghĩ độc lập, biết chọn lọc và có chính kiến trước mọi hiện tượng, tránh để đám đông chi phối cuộc sống của mình. --- Câu 2 (600 chữ): Bài văn so sánh và đánh giá hai đoạn trích Hai đoạn trích “Ông ngoại” và “Giàn bầu trước ngõ” của Nguyễn Ngọc Tư đều viết về tình cảm gia đình, nhưng mỗi đoạn lại thể hiện ở một khía cạnh khác nhau và để lại những dư âm sâu lắng trong lòng người đọc. Ở đoạn trích “Ông ngoại”, câu chuyện xoay quanh sự thay đổi trong nhận thức của Dung về ông ngoại. Ban đầu, Dung thấy ông khó tính, lạc hậu và không hợp với nhịp sống của mình. Thế giới của một cô bé hiện đại và thế giới của ông già lớn tuổi dường như hoàn toàn đối lập. Thế nhưng, bằng sự quan tâm lặng lẽ, ông ngoại đã khiến Dung nhận ra tình thương vô điều kiện của mình. Ông từ chối tham gia câu lạc bộ chỉ vì “sợ con ở nhà buồn”. Dung lớn lên trong sự yêu thương mà ban đầu em vô tâm không nhận ra. Nhờ thời gian sống cùng ông, Dung học cách thấu hiểu, trân trọng và yêu thương. Sự thay đổi từ chỗ xa cách đến gắn bó là điểm nhấn và cũng là vẻ đẹp nhân văn của đoạn trích. Trong khi đó, đoạn trích “Giàn bầu trước ngõ” khai thác nỗi nhớ quê sâu thẳm của người bà khi phải rời xa mảnh đất thân thuộc. Giàn bầu là biểu tượng của quê hương, là sợi dây níu giữ ký ức. Không ai trong gia đình thích giàn bầu, nhưng bà vẫn âm thầm chăm sóc như chăm chính tâm hồn mình. Những món bánh dân dã, chiếc dây chuyền làm từ vỏ bầu hay chiếc lò đất khói tỏa cay mắt đều thấm đẫm tình quê và nỗi buồn không nói thành lời. Hình ảnh bà nội lặng lẽ, dần già yếu và cuối cùng chỉ còn nhớ về quá khứ khiến người đọc trào dâng xót xa. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là một phần máu thịt, một phần ký ức không bao giờ tách khỏi trái tim người. Điểm giống nhau của hai đoạn trích là đều khai thác đề tài gia đình bằng giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế. Cả hai đều thể hiện sự thấu cảm với những người lớn tuổi trong gia đình – những người âm thầm hi sinh nhưng ít khi nói ra bằng lời. Nguyễn Ngọc Tư khắc họa nhân vật bằng những chi tiết rất đời thường: tiếng ho của ông ngoại, giàn bầu, lò đất, món bánh quê… nhưng lại giàu sức gợi và chạm đến trái tim người đọc. Tuy nhiên, điểm khác nhau nằm ở góc độ tình cảm: “Ông ngoại” là hành trình trưởng thành của người trẻ thông qua quá trình thấu hiểu người già. “Giàn bầu trước ngõ” lại là nỗi cô đơn và khắc khoải của người già khi bị tách khỏi quê hương. Nếu đoạn trích về ông ngoại mang màu sắc ấm áp, kết thúc bằng sự đồng cảm và kết nối, thì đoạn trích về giàn bầu mang âm hưởng buồn, day dứt và để lại khoảng lặng trong lòng người đọc. Qua hai đoạn văn, Nguyễn Ngọc Tư khẳng định: tình cảm gia đình là nơi lưu giữ ký ức, là điểm tựa khiến con người biết yêu thương và trưởng thành. Đừng vì nhịp sống vội vàng mà vô tâm với những người luôn yêu thương ta bằng cả trái tim.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp yếu tố biểu cảm). --- Câu 2. Ta cần trân trọng và chăm sóc bản thân vì chỉ có chính ta mới hiểu rõ những tổn thương, nỗi đau và sợ hãi của mình, do đó ta phải biết yêu thương và bảo vệ chính mình thay vì trông chờ vào người khác. --- Câu 3. Việc sử dụng ngạn ngữ giúp tăng tính thuyết phục, tạo điểm tựa cho lập luận và giúp người đọc dễ tiếp nhận hơn vì đó là một kinh nghiệm đã được đúc kết và công nhận. --- Câu 4. Quan điểm trên có nghĩa là: mọi người sẽ đối xử với ta dựa trên cách ta đối xử với chính mình. Nếu ta tôn trọng, yêu thương bản thân, người khác cũng sẽ có xu hướng trân trọng ta; ngược lại, nếu ta tự hạ thấp mình, người khác dễ xem thường ta. --- Câu 5. (Trả lời mẫu – ngắn gọn) Em đồng tình. Vì chỉ khi biết tự chăm sóc và yêu thương bản thân, ta mới có thể mạnh mẽ trước khó khăn, không phụ thuộc vào sự quan tâm của người khác. Tự mình là điểm tựa giúp ta chủ động, vững vàng và hạnh phúc hơn trong cuộc sống.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp yếu tố biểu cảm). --- Câu 2. Ta cần trân trọng và chăm sóc bản thân vì chỉ có chính ta mới hiểu rõ những tổn thương, nỗi đau và sợ hãi của mình, do đó ta phải biết yêu thương và bảo vệ chính mình thay vì trông chờ vào người khác. --- Câu 3. Việc sử dụng ngạn ngữ giúp tăng tính thuyết phục, tạo điểm tựa cho lập luận và giúp người đọc dễ tiếp nhận hơn vì đó là một kinh nghiệm đã được đúc kết và công nhận. --- Câu 4. Quan điểm trên có nghĩa là: mọi người sẽ đối xử với ta dựa trên cách ta đối xử với chính mình. Nếu ta tôn trọng, yêu thương bản thân, người khác cũng sẽ có xu hướng trân trọng ta; ngược lại, nếu ta tự hạ thấp mình, người khác dễ xem thường ta. --- Câu 5. (Trả lời mẫu – ngắn gọn) Em đồng tình. Vì chỉ khi biết tự chăm sóc và yêu thương bản thân, ta mới có thể mạnh mẽ trước khó khăn, không phụ thuộc vào sự quan tâm của người khác. Tự mình là điểm tựa giúp ta chủ động, vững vàng và hạnh phúc hơn trong cuộc sống.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp yếu tố biểu cảm). --- Câu 2. Ta cần trân trọng và chăm sóc bản thân vì chỉ có chính ta mới hiểu rõ những tổn thương, nỗi đau và sợ hãi của mình, do đó ta phải biết yêu thương và bảo vệ chính mình thay vì trông chờ vào người khác. --- Câu 3. Việc sử dụng ngạn ngữ giúp tăng tính thuyết phục, tạo điểm tựa cho lập luận và giúp người đọc dễ tiếp nhận hơn vì đó là một kinh nghiệm đã được đúc kết và công nhận. --- Câu 4. Quan điểm trên có nghĩa là: mọi người sẽ đối xử với ta dựa trên cách ta đối xử với chính mình. Nếu ta tôn trọng, yêu thương bản thân, người khác cũng sẽ có xu hướng trân trọng ta; ngược lại, nếu ta tự hạ thấp mình, người khác dễ xem thường ta. --- Câu 5. (Trả lời mẫu – ngắn gọn) Em đồng tình. Vì chỉ khi biết tự chăm sóc và yêu thương bản thân, ta mới có thể mạnh mẽ trước khó khăn, không phụ thuộc vào sự quan tâm của người khác. Tự mình là điểm tựa giúp ta chủ động, vững vàng và hạnh phúc hơn trong cuộc sống.